Làm gì để khoa học cơ bản mở lối cho công nghệ Việt
Cập nhật: 1 giờ trước
Làm gì để khoa học cơ bản mở lối cho công nghệ Việt
Nửa thế kỷ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan: Chung tay vì tương lai ASEAN
VOV.VN - Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, nghiên cứu khoa học cơ bản không chỉ là hoạt động học thuật mà đã trở thành nền tảng quyết định năng lực tự chủ quốc gia, khả năng làm chủ công nghệ lõi và tạo động lực tăng trưởng dài hạn cho Việt Nam trong kỷ nguyên cạnh tranh toàn cầu.
Phát biểu tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản khi triển khai Nghị quyết 57.Đây được coi là nền tảng cốt lõi để phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Nói về quan điểm này, PGS.TS Đinh Công Hoàng, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, khoa học cơ bản đã trở thành một bộ phận cấu thành năng lực tự chủ quốc gia.
Theo PGS Hoàng, quốc gia nào làm chủ được tri thức nền tảng sẽ có khả năng làm chủ công nghệ lõi, dữ liệu, bằng sáng chế và các chuỗi giá trị mới. Ngược lại, nếu chỉ dừng ở việc nhập khẩu công nghệ hoặc gia công theo thiết kế của nước ngoài, nền kinh tế sẽ luôn ở vị thế phụ thuộc và dễ tổn thương trước các biến động địa chính trị hay đứt gãy chuỗi cung ứng. "Khoa học cơ bản chính là nền móng của sức mạnh quốc gia hiện đại", PGS.TS Đinh Công Hoàng nhấn mạnh.
Ông dẫn chứng, trí tuệ nhân tạo được xây dựng trên nền tảng toán học, khoa học máy tính và thống kê; ngành bán dẫn dựa vào vật lý, hóa học và khoa học vật liệu; công nghệ sinh học cần sinh học phân tử, di truyền học; còn năng lượng mới đòi hỏi các nghiên cứu sâu về vật liệu, điện hóa và khoa học hệ thống. Vì vậy, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản chính là đầu tư cho khả năng tự tạo ra tri thức, tự hấp thụ công nghệ, tự cải tiến và tiến tới tự sáng tạo công nghệ.
Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, mô hình tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ từng giúp Việt Nam hội nhập nhanh vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, dư địa của mô hình này đang dần thu hẹp khi tiền lương tăng, dân số bước vào giai đoạn già hóa và các yêu cầu về xanh hóa, số hóa ngày càng khắt khe.
Trong bối cảnh đó, động lực tăng trưởng mới phải đến từ năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo nội sinh. Nghiên cứu khoa học cơ bản có thể góp phần hình thành những ngành công nghiệp dựa trên tri thức như vật liệu mới, chip chuyên dụng, công nghệ sinh học, pin lưu trữ năng lượng, trí tuệ nhân tạo tiếng Việt và dữ liệu lớn.
Bên cạnh đó, khoa học cơ bản còn nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp thiếu nền tảng khoa học và kỹ thuật dù nhập khẩu dây chuyền hiện đại cũng chỉ có thể vận hành, rất khó cải tiến hoặc tạo ra sở hữu trí tuệ riêng. Quan trọng hơn, nghiên cứu cơ bản giúp đào tạo đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia vật liệu và công nghệ sinh học - lực lượng quyết định khả năng tham gia các khâu nghiên cứu, thiết kế và sở hữu công nghệ trong tương lai.
Nhìn vào những quốc gia thành công về khoa học công nghệ như Israel, Hàn Quốc hay Trung Quốc, PGS.TS Đinh Công Hoàng cho rằng bài học lớn nhất không đơn thuần là chi nhiều tiền hơn cho R&D. Điều quan trọng là biến nghiên cứu và phát triển thành chiến lược quốc gia dài hạn, có cơ chế tài chính đủ mạnh, có doanh nghiệp làm trung tâm và Nhà nước đóng vai trò kiến tạo.
“Israel thành công nhờ hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp khởi nghiệp, quỹ đầu tư và các tập đoàn công nghệ. Hàn Quốc kiên trì đầu tư cho giáo dục, R&D doanh nghiệp và công nghiệp hỗ trợ. Trung Quốc kết hợp hiệu quả quy mô thị trường lớn, đầu tư công mạnh, chính sách công nghiệp trọng tâm và phát triển nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật”, ông Đinh Công Hoàng dẫn chứng.
Việt Nam đang hướng tới mục tiêu chi khoảng 2% GDP cho hoạt động nghiên cứu và phát triển vào năm 2030. Tuy nhiên, theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, vấn đề quan trọng không chỉ là quy mô nguồn lực mà còn là chất lượng phân bổ.
“Khoảng 25-30% tổng ngân sách R&D nên dành cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu nền tảng tại các viện, trường đại học và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Khoảng 35-40% nên tập trung cho các chương trình công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới, vật liệu tiên tiến và an ninh mạng. Từ 20-25% nguồn lực cần được thiết kế theo cơ chế đồng tài trợ với doanh nghiệp, quỹ đổi mới công nghệ và các chính sách ưu đãi thuế cho R&D. Phần còn lại nên đầu tư cho hạ tầng dữ liệu, phòng thí nghiệm dùng chung, đào tạo nhân tài, thu hút chuyên gia quốc tế và bảo hộ sở hữu trí tuệ”, ông Hoàng đề xuất.
Theo ông, cách phân bổ này sẽ tạo ra cầu nối từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm.
Ông Hoàng cũngkiến nghị cần tháo gỡ những điểm nghẽn trong liên kết viện - trường - doanh nghiệp, đặc biệt liên quan đến sở hữu trí tuệ, định giá kết quả nghiên cứu và cơ chế chia sẻ lợi ích.
Đồng thời, các lĩnh vực như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học và năng lượng mới đang tái cấu trúc toàn bộ phương thức sản xuất và cạnh tranh của nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, Việt Nam không thể cùng lúc dẫn đầu mọi lĩnh vực. Chiến lược phù hợp là lựa chọn những phân khúc có lợi thế về thị trường, nguồn nhân lực và khả năng tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.
Đối với bán dẫn, Việt Nam nên ưu tiên thiết kế chip chuyên dụng, kiểm thử, đóng gói và đào tạo nhân lực.
Trong lĩnh vực AI, cần tập trung vào dữ liệu Việt Nam, mô hình tiếng Việt và các ứng dụng phục vụ sản xuất, nông nghiệp, giáo dục, y tế và quản trị công.
Đối với công nghệ sinh học, ưu tiên nên dành cho nông nghiệp, thực phẩm và y sinh. Trong khi đó, năng lượng mới cần tập trung vào pin lưu trữ, vật liệu tiên tiến và công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh.
Trở thành quốc gia thu nhập cao phải dựa vào tri thức và công nghệ
Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, đểđưa Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045,điều kiện tiên quyết là phải tạo được bước nhảy vọt về năng suất, công nghệ, chất lượng thể chế và năng lực đổi mới sáng tạo. Vì vậy, ông đề xuất 5 nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện ngay.
Thứ nhất, bảo đảm đầu tư R&D đủ lớn, ổn định và dài hạn.
Thứ hai, xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, từ nhà khoa học cơ bản đến chuyên gia AI, bán dẫn và công nghệ sinh học.
Thứ ba, phát triển các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có năng lực nghiên cứu và sở hữu sáng chế riêng.
Thứ tư, hoàn thiện thể chế đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, cải cách mua sắm công và phát triển thị trường công nghệ.
Thứ năm, tập trung nguồn lực vào một số lĩnh vực chiến lược thay vì đầu tư dàn trải.
Theo ông, Việt Nam cần xây dựng năng lực riêngAI tiếng Việt, dữ liệu Việt Nam, bán dẫn ở những phân khúc phù hợp, công nghệ sinh học nông nghiệp - y sinh, năng lượng mới, vật liệu tiên tiến và tự động hóa sản xuất.
"Muốn trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải xây dựng được nền kinh tế dựa trên tri thức Việt Nam, công nghệ Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam và năng lực đổi mới sáng tạo của người Việt Nam", PGS.TS Đinh Công Hoàng nhấn mạnh.
Từ khóa: khoa học cơ bản, khoa học cơ bản, Nghị quyết 57, Tổng Bí thư Chủ tịch nước Tô Lâm, đổi mới sáng tạo, R&D, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, chuyển đổi số, kinh tế tri thức
Thể loại: Nội chính
Tác giả: cao thắng/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN