Khơi thông thị trường khoa học công nghệ, đẩy mạnh ứng dụng thực tiễn
Cập nhật: 37 phút trước
Khơi thông thị trường khoa học công nghệ, đẩy mạnh ứng dụng thực tiễn
10 trạng thái mã số thuế theo quy định mới, người nộp thuế cần nắm rõ
VOV.VN - Để các phát minh, sáng chế, nghiên cứu khoa học công nghệ (KHCN) tạo ra giá trị kinh tế, cần thị trường KHCN làm cầu nối đưa các nghiên cứu này vào thực tiễn. Tuy nhiên, việc phát triển thị trường KHCN tại Việt Nam còn nhiều nút thắt cần tháo gỡ...
Thị trường khoa học công nghệ là nơi diễn ra các quan hệ trao đổi, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ, kết quả nghiên cứu, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, phần mềm, dữ liệu... Thị trường này gồm: Bên cung là viện, trường, doanh nghiệp, nhà khoa học; bên cầu là doanh nghiệp, Nhà nước và xã hội cùng các tổ chức trung gian như sàn giao dịch, môi giới, định giá, sở hữu trí tuệ và tài chính.
Theo ông Nguyễn Văn Trúc, Trưởng phòng Ươm tạo Công nghệ, Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), những năm gần đây, thị trường KHCN đã hình thành rõ hơn, khung pháp lý, chính sách từng bước được hoàn thiện, nhiều sàn giao dịch công nghệ và tổ chức trung gian đã ra đời, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, phát minh, sáng chế KHCN. Tuy nhiên, thị trường KHCN vẫn phân tán, quy mô giao dịch còn nhỏ, dữ liệu chưa liên thông, công nghệ trong nước chưa đáp ứng tốt nhu cầu, vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu.
“Nguyên nhân là do hệ thống pháp luật về KHCN, tài sản công, ngân sách, thuế, sở hữu trí tuệ và đầu tư chưa thật sự đồng bộ; quyền sở hữu, định giá và phân chia lợi ích từ kết quả nghiên cứu có lúc còn khó thực hiện. Mặt khác nguồn cung mới dừng ở kết quả nghiên cứu, chưa được hoàn thiện thành sản phẩm sẵn sàng cho thị trường. Thách thức lớn hiện nay là sự cạnh tranh công nghệ toàn cầu, vòng đời công nghệ ngắn, rủi ro cao; thiếu vốn dài hạn, thiếu nhân lực thương mại hóa và các tổ chức trung gian chuyên nghiệp. Cốt lõi là chúng ta chưa hình thành đầy đủ một cơ chế thị trường có động lực lợi ích rõ ràng cho tất cả các bên”, ông Trúc nói.
Các số liệu thống kê về hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam cho thấy, giai đoạn 2018 - 2023 có đến 85% giá trị hợp đồng chuyển giao công nghệ là từ nước ngoài vào Việt Nam, chủ yếu trong nội bộ doanh nghiệp FDI, trong khi đó chỉ có 2 hợp đồng chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài. Điều này cho thấy Việt Nam là “thị trường bên mua”, các kết quả nghiên cứu, phát minh, sáng chế KHCN từ các viện, trường trong nước còn hạn chế, chưa được đẩy mạnh thương mại hóa.
Theo phân tích của TS Nguyễn Văn Cảnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu công nghệ và sản xuất thông minh, Trường Cơ khí - Ô tô, Đại học Công nghiệp Hà Nội, hàng hóa KHCN chưa được đẩy mạnh thương mại hóa là do thiếu sự liên kết giữa bên cung (Viện, Trường) - bên cầu (doanh nghiệp); thiếu tổ chức trung gian chuyên nghiệp, trung tâm chuyển giao công nghệ.
“Đây là điểm nghẽn khiến thị trường KHCN chậm phát triển. Điều này dẫn đến tình trạng lệch pha rất lớn đó là nhà khoa học có nghiên cứu, có phát minh, sáng chế KHCN nhưng lại lúng túng, thiếu kỹ năng để thương mại hóa sản phẩm, còn doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ lại không biết tìm nguồn ở đâu. Vai trò của sàn giao dịch KHCN vẫn còn mờ nhạt chưa thực sự là cầu nối thương mại hóa, các hoạt động kết nối cung - cầu KHCN chưa được như kỳ vọng do dữ liệu phân tán, hạ tầng số thiếu đồng bộ và cơ chế liên thông còn nhiều hạn chế”, TS Cảnh cho hay.
Trong bối cảnh KHCN đang trở thành động lực tăng trưởng mới, việc phát triển thị trường KHCN hiện đại, hội nhập chính là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh, PGS.TS Đỗ Hương Lan, Trưởng phòng Quản lý khoa học, Trường Đại học Tài chính - Marketing, TP Hồ Chí Minh cho rằng, cần có cơ chế, khung chính sách phát triển mô hình doanh nghiệp spin-off (doanh nghiệp được thành lập mới từ viện nghiên cứu, trường để hoạt động độc lập, nhằm kết nối tri thức với thị trường, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ, sản phẩm hoặc ý tưởng nghiên cứu) - cơ chế này đã được đề cập trong Nghị quyết 193/2025/QH15 nhằm gắn kết trực tiếp nhà khoa học với thị trường.
“Trước hết cần có cơ chế rõ ràng về quyền sở hữu và khai thác tài sản trí tuệ, đây là điều kiện tiên quyết để hình thành doanh nghiệp spin-off và là động lực để các chủ thể tham gia. Thứ hai, cần có thiết chế trung gian hỗ trợ quá trình thương mại hóa, như văn phòng chuyển giao công nghệ, vườn ươm doanh nghiệp và các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo nhằm giảm chi phí giao dịch, hỗ trợ định giá công nghệ, phát triển mô hình kinh doanh, kết nối với thị trường. Thứ ba, mô hình doanh nghiệp spin-off đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của nhà khoa học với vai trò không chỉ là người tạo ra tri thức, mà còn là người phát triển và khai thác công nghệ. Thứ tư, cần có sự tham gia của thị trường và nhà đầu tư ngay từ sớm để có sự kết nối chặt chẽ với nhu cầu thị trường và nhận được hỗ trợ từ các nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp đối tác. Điều này giúp giảm rủi ro công nghệ và nâng cao khả năng thương mại hóa”, PGS Đỗ Hương Lan nói.
Một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển của thị trường KHCN là thiếu điều kiện pháp lý và cơ chế hỗ trợ đồng bộ. Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi, mở đường cho việc hoàn thiện, đồng bộ các chính sách, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng trung gian trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, việc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, khuyến khích hình thành và phát triển các sàn giao dịch KHCN được xem là bước đi chiến lược để thị trường KHCN phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Ông Nguyễn Văn Trúc cho rằng, cần thiết kế một gói chính sách đột phá tạo “cú hích” đồng bộ theo hướng cầu kéo, vốn mồi và giao quyền.
“Trước hết, phải xác lập rõ quyền sở hữu, quyền quyết định và phân chia lợi ích để các viện, trường, nhà khoa học chủ động thương mại hóa các phát minh, nghiên cứu, sáng chế KHCN... Nhà nước cần trở thành khách hàng đầu tiên thông qua cơ chế đặt hàng, mua sắm công đối với sản phẩm KHCN. Đồng thời tạo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho công nghệ mới, tạo không gian an toàn để doanh nghiệp thử nghiệm, kiểm chứng KHCN trước khi áp dụng vào thực tiễn. Cùng với đó, đẩy mạnh phát triển quỹ đồng đầu tư với sự tham gia của nhà nước - tư nhân nhằm khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp KHCN, chia sẻ rủi ro; triển khai tín dụng dựa trên tài sản trí tuệ, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp mua và làm chủ công nghệ. Tích hợp nền tảng dữ liệu quốc gia với các trung tâm trung gian cấp vùng để tạo ra hệ sinh thái chuyển đổi số tập trung, kết nối hạ tầng và dữ liệu.
Cùng với đó, cần có cơ chế vận hành hiệu quả sàn giao dịch KHCN nhằm tăng cường kết nối cung – cầu. Mỗi bằng sáng chế sau khi được cấp phải có mặt ngay trên sàn giao dịch, để kết nối sớm nhất giữa các nhà sáng chế, doanh nghiệp và quỹ đầu tư. Điều này giúp chấm dứt tình trạng bằng sáng chế cất ngăn kéo, tối ưu hóa tài sản trí tuệ, đồng thời hiện thực hóa các quy định cho phép định giá và giao dịch tài sản trí tuệ”, ông Trúc nêu quan điểm.
Từ khóa: khoa học công nghệ, khoa học công nghệ, thị trường khoa học công nghệ, chính sách, sáng chế, thị trường, việt nam
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: lê thanh-ctv phượng ngọc/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN