Khi mạng xã hội thành nơi phán xử

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - Tự do ngôn luận không bao gồm quyền bịa đặt, vu khống, xâm phạm đời tư hay kích động trừng phạt. Phản biện không phải sỉ nhục hay chống đối, yêu nước không phải quy chụp và công luận không thể thay thế cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án.

Mạng xã hội đã mở rộng không gian tự do ngôn luận theo cách chưa từng có. Chỉ với một chiếc điện thoại, bất kỳ ai cũng có thể phản ánh tiêu cực, lên tiếng trước bất công, giám sát người có quyền lực và tạo sức ép buộc cơ quan chức năng phải vào cuộc. Không ít vụ bạo hành, tham nhũng, gian lận hay xâm phạm quyền lợi người yếu thế được phát hiện nhờ tiếng nói của cộng đồng mạng. Đó là giá trị tích cực không thể phủ nhận của xã hội số.

Nhưng cũng chính mạng xã hội đang tạo ra một hiện tượng đáng lo ngại: Nhiều người không chỉ muốn phản ánh sự việc mà còn tự nhận quyền điều tra, buộc tội, xét xử và tuyên án. Chỉ từ một đoạn video vài chục giây, một bức ảnh thiếu bối cảnh, một bài đăng chưa được kiểm chứng hoặc vài dòng trạng thái đầy cảm xúc, hàng nghìn bình luận đã vội vàng kết luận ai đúng, ai sai; ai đáng bị cách chức, tẩy chay hay "xóa sổ" khỏi đời sống xã hội. Đó không còn là quyền tự do biểu đạt. Đó là sự mạo danh công lý.

Một nền tư pháp văn minh được xây dựng trên chứng cứ, thủ tục tố tụng, quyền giải trình và nguyên tắc suy đoán vô tội. Trong khi đó, “phiên tòa” trên mạng xã hộiđôi khi vận hành theo logic ngược lại: Kết luận trước, tìm chứng cứ sau; cảm xúc trước, sự thật sau; ý chí của số đông được coi như “luật pháp”.

Trong "phiên tòa" ấy, bị cáo không có luật sư, không được đối chất, không có quyền kháng cáo. "Bản án" được “tuyên” và được cố súy bằng lượt chia sẻ, bình luận và biểu tượng cảm xúc.

Đáng lo hơn, sự ồn ào trên mạng chưa chắc phản ánh ý kiến của đa số. Nghiên cứu của “The Majority Illusion in Social Networks” về “ảo giác đa số” cho thấy, cấu trúc mạng có thể khiến một quan điểm thiểu số xuất hiện như rất phổ biến, làm người dùng đánh giá quá cao mức độ đồng thuận thực tế. Ảo giác ấy có thể đẩy những người nghĩ khác vào “vòng xoáy im lặng”. Họ ngại lên tiếng vì sợ bị cô lập, công kích hoặc gắn nhãn, khiến công luận càng trở nên méo mó.

Sai phạm cần được xử lý nghiêm, nhưng nghi ngờ không luôn đồng nghĩa với có tội, lời tố cáo cũng không mặc nhiên là sự thật. Ngay cả khi một hành vi đáng bị phê phán, cộng đồng cũng không có quyền xúc phạm hoặc tước bỏ nhân phẩm của một con người trước khi sự việc được xác minh và pháp luật đưa ra kết luận.

Thực tếcho thấy có người bị "kết án" trên mạng, rồi sau đó được xác định không vi phạm hoặc mức độ sai phạm hoàn toàn khác với những gì đám đông suy diễn. Nhưng khi sự thật được làm sáng tỏ, lời cải chính thường chỉ lan truyền bằng một phần rất nhỏ so với lời buộc tội ban đầu. Pháp luật có thể khôi phục quyền lợi, nhưng rất khó khôi phục danh dự đã bị mạng xã hội hủy hoại.

Điều tra cần thời gian và chứng cứ, trong khi dư luận thường đòi kết luận tức thì. Xã hội dân chủ cần công dân biết phản biện, giám sát và dám lên tiếng, nhưng giám sát xã hội không phải xét xử xã hội. Mạng xã hội có thể phát hiện dấu hiệu bất thường, cung cấp thông tin và yêu cầu minh bạch. Còn kết luận đúng sai, xác định mức độ vi phạm và áp dụng chế tài phải thuộc về cơ quan có thẩm quyền.

Tự do ngôn luận không bao gồm quyền bịa đặt, vu khống, xâm phạm đời tư hay kích động trừng phạt. Phản biện không phải sỉ nhục hay chống đối, yêu nước không phải quy chụp, và công luận không thể thay thế cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã không còn xem đây chỉ là vấn đề ứng xử trên mạng mà là thách thức của quản trị quốc gia. Liên minh châu Âu coi việc thuật toán khuếch đại nội dung cực đoan, sai lệch và gây hại là một "rủi ro hệ thống", buộc các nền tảng số lớn phải đánh giá và có biện pháp giảm thiểu theo Đạo luật Dịch vụ số (Digital Services Act). Australia thành lập cơ quan eSafety chuyên trách để yêu cầu gỡ bỏ nhanh những nội dung gây hại nghiêm trọng khi nền tảng không xử lý. Điểm chung của các cách tiếp cận này là không trao quyền xét xử cho đám đông, không để các nền tảng vô can trước những hậu quả do chính cơ chế khuếch đại của mình tạo ra.

Việt Nam cần thực thi nghiêm pháp luật trên không gian mạng, đồng thời xây dựng văn hóa số dựa trên sự thật, tôn trọng nhân phẩm và trách nhiệm công dân. Người dân có quyền chất vấn, giám sát và yêu cầu minh bạch, nhưng không được vượt qua ranh giới pháp lý và đạo đức. Muốn hạn chế những “phiên tòa mạng”, cơ quan công quyền cũng phải kịp thời cung cấp thông tin, giải trình; xử lý nghiêm minh, khách quan vàcông bằng; bởi khoảng trống thông tin luôn là mảnh đất màu mỡ cho tin đồn, sự suy diễn, thuyết âm mưu và những "bản án" cảm tính.

Một xã hội văn minh không phải không có phẫn nộ màbiết đặt sự phẫn nộ dưới sự dẫn dắt, ánh sáng của pháp luật. Công luận có quyền chất vấn, nhưng không có quyền kết án. Mạng xã hội có thể là nơi khởi đầu của mộthành trìnhtìm công lýnhưng không thể thay thế các cơ quan chức năng thực thicông lý.

Bởi khi mỗi tài khoản tự xem mình nhưquan tòa, người bị tổn thương đầu tiên có thể là một cá nhân hay một tổ chức,nhưng nạn nhân lâu dài sẽ là niềm tin của xã hội vào công lý và nhà nước pháp quyền. Và nếu pháp quyền có nguy cơ bị lấn át bởi những "bản án" cảm tính của số đông, không ai có thể chắc chắn rằng ngày mai mình sẽ không trở thành nạn nhân, thành"bị cáo" trong chính “phiên tòa” của mạng xã hội.

Từ khóa: mạng xã hội, mạng xã hội, vu khống, xâm phạm, tự do ngôn luận

Thể loại: Pháp luật

Tác giả: ts. hoàng ngọc vinh

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập