Giảm 30% thuế thu nhập: Ngưỡng 10 tỷ đồng phù hợp, cần tránh vách đá chính sách
Cập nhật: 36 phút trước
VOV.VN - Theo TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội, đề xuất của Bộ Tài chính về ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng/năm có tính thực dụng, dễ triển khai trong chính sách giảm 30% thuế thu nhập, đồng thời cảnh báo cần xử lý “vách đá chính sách” để tránh tâm lý vượt ngưỡng.
PV: Bộ Tài chính đang đề xuất giảm 30% thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ tính thuế năm 2026, 2027 đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có tổng doanh thu đến 10 tỷ đồng/năm. Theo ông, đề xuất này có ý nghĩa như thế nào đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ?
Tôi cho rằng đây là một đề xuất rất đáng ghi nhận, bởi nó đi trực tiếp vào một trong những vấn đề mà doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh quan tâm nhất hiện nay, đó là dòng tiền và nguồn lực tích lũy để tái đầu tư. Điểm cần hiểu rõ là đề xuất hiện nay là giảm 30% số thuế thu nhập phải nộp, chứ không phải giảm 30 điểm phần trăm thuế suất.
Theo dự thảo đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến, chính sách áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có tổng doanh thu đến 10 tỷ đồng/năm. Bộ Tài chính dự kiến chính sách có thể làm giảm thu ngân sách khoảng 3.191 tỷ đồng trong năm 2026 và 3.510 tỷ đồng trong năm 2027. Đối với một doanh nghiệp lớn, khoản tiền thuế được giảm có thể chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn lực. Nhưng với một doanh nghiệp siêu nhỏ, một hộ kinh doanh, vài chục triệu hay vài trăm triệu đồng được giữ lại có thể mang ý nghĩa rất khác: đó có thể là tiền trả lương cho người lao động, tiền thuê mặt bằng, bổ sung vốn lưu động, đầu tư một phần mềm quản trị, máy móc mới hoặc thực hiện một đơn hàng mới. Vì vậy, tôi nhìn chính sách này không chỉ dưới góc độ “giảm nghĩa vụ thuế”, mà quan trọng hơn là Nhà nước chủ động để lại một phần nguồn lực trong khu vực sản xuất, kinh doanh.
Trong kinh tế, nguồn lực để lại cho doanh nghiệp nếu được sử dụng đúng có thể tạo ra vòng quay mới: doanh nghiệp tái đầu tư, tạo doanh thu, duy trì việc làm, phát sinh đơn hàng cho nhà cung cấp, tạo thêm thu nhập cho người lao động và cuối cùng quay trở lại ngân sách thông qua nhiều sắc thuế khác nhau.
Bởi vậy, cần nhìn câu chuyện trong một chu kỳ dài hơn. Giảm thu trước mắt chưa chắc đồng nghĩa với giảm nguồn thu lâu dài. Chính Bộ Tài chính cũng xác định rằng chính sách có thể làm giảm thu ngân sách trong ngắn hạn nhưng khi doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh phát triển thì khả năng đóng góp trở lại ngân sách sẽ ổn định, bền vững hơn. Tôi cho rằng đây chính là tư duy “nuôi dưỡng nguồn thu” thay vì chỉ tập trung khai thác nguồn thu hiện hữu.
PV: Theo ông, nguồn lực từ giảm thuế này có thể tác động ra sao đến các quyết định của doanh nghiệp về duy trì việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đầu tư công nghệ, chuyển đổi số hoặc mở rộng sản xuất?
Tác động đầu tiên và rõ nhất là cải thiện dòng tiền sau thuế của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhỏ, quyết định giữ thêm một lao động, tăng một khoản thu nhập, đầu tư một thiết bị hay triển khai một phần mềm quản trị đôi khi không phải câu chuyện chiến lược quá lớn, mà phụ thuộc trực tiếp vào việc doanh nghiệp có đủ dòng tiền trong vài tháng tới hay không.
Tôi cho rằng nguồn lực từ giảm thuế có thể đi vào ít nhất bốn hướng. Thứ nhất là duy trì việc làm và thu nhập cho người lao động. Khi chi phí tài chính giảm xuống, doanh nghiệp có thêm dư địa giữ lao động, hạn chế cắt giảm nhân sự và từng bước cải thiện tiền lương, thưởng, phúc lợi. Đây cũng là cách chính sách thuế gián tiếp hỗ trợ an sinh xã hội.
Thứ hai là bổ sung vốn lưu động. Rất nhiều doanh nghiệp nhỏ không thiếu đơn hàng nhưng thiếu vốn để mua nguyên vật liệu, ứng trước chi phí sản xuất hoặc duy trì hàng tồn kho. Nếu phần thuế được giảm tiếp tục quay trở lại chu kỳ sản xuất thì một đồng ngân sách hỗ trợ có thể tạo ra nhiều vòng doanh thu tiếp theo.
Thứ ba, tôi đặc biệt kỳ vọng vào đầu tư công nghệ và chuyển đổi số. Với doanh nghiệp nhỏ, chuyển đổi số không nhất thiết phải bắt đầu từ những hệ thống hàng tỷ đồng. Có thể bắt đầu từ hóa đơn điện tử, phần mềm kế toán, quản lý bán hàng, CRM, quản trị kho, quản trị nhân sự, thương mại điện tử và sau đó từng bước sử dụng dữ liệu, AI vào hoạt động kinh doanh. Cục Thuế hiện cũng đang chuẩn bị phương án cung cấp miễn phí nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh, với định hướng kết nối kế toán, hóa đơn điện tử và giảm chi phí tuân thủ.
Nếu những chính sách này được triển khai đồng bộ với giảm thuế thì hiệu quả sẽ lớn hơn rất nhiều.
Thứ tư là mở rộng quy mô kinh doanh. Khi doanh nghiệp có thêm nguồn lực và niềm tin, họ mới dám nhận thêm đơn hàng, mở thêm điểm bán, đầu tư máy móc hoặc thâm nhập thị trường mới.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận khách quan rằng doanh nghiệp đang thua lỗ hoặc chưa phát sinh thuế thu nhập phải nộp thì sẽ không hưởng lợi trực tiếp nhiều từ chính sách giảm thuế này. Vì vậy, giảm thuế cần nằm trong một hệ sinh thái hỗ trợ, cùng với tín dụng, bảo lãnh tín dụng, chuyển đổi số, xúc tiến thương mại, đào tạo nhân lực và cải cách thủ tục hành chính.
PV: Việc áp dụng chính sách theo ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng/năm có ưu điểm và hạn chế gì, thưa ông? Theo ông, tiêu chí này đã phù hợp với thực tế hoạt động và khả năng chịu đựng chi phí của nhóm doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh hay chưa?
Tôi cho rằng 10 tỷ đồng là một ngưỡng có tính thực dụng khá cao đối với một chính sách hỗ trợ ngắn hạn, bởi ưu điểm lớn nhất là đơn giản, dễ xác định và dễ tự động hóa. Doanh thu là chỉ tiêu cơ quan thuế có thể xác định khá rõ thông qua kê khai và hệ thống hóa đơn điện tử. Chính phủ cũng đang xem xét nâng mức doanh thu để lựa chọn phương pháp tính thuế đơn giản đối với hộ, cá nhân kinh doanh từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng/năm và điều chỉnh tương ứng đối với doanh nghiệp.
Điều đó cho thấy đang có xu hướng đồng bộ hóa chính sách quanh ngưỡng này. Tuy nhiên, doanh thu không hoàn toàn phản ánh sức khỏe của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp thương mại doanh thu 10 tỷ đồng có thể có biên lợi nhuận chỉ vài phần trăm, trong khi doanh nghiệp dịch vụ có cùng doanh thu nhưng tỷ suất lợi nhuận cao hơn rất nhiều. Có doanh nghiệp sử dụng 5 lao động, có doanh nghiệp phải sử dụng 30–40 lao động. Chi phí thuê mặt bằng, logistics, nguyên liệu và vốn cũng rất khác nhau. Vì vậy, hai doanh nghiệp cùng có doanh thu 9,5 tỷ đồng chưa chắc có khả năng chịu đựng chi phí giống nhau.
Hạn chế thứ hai là hiệu ứng “vách đá chính sách” tại ngưỡng 10 tỷ đồng. Nếu doanh nghiệp có doanh thu 9,9 tỷ đồng được hưởng hỗ trợ nhưng doanh nghiệp đạt 10,1 tỷ đồng lại không được hưởng, khoảng cách rất nhỏ về doanh thu có thể dẫn tới chênh lệch tương đối lớn về quyền lợi. Về dài hạn, cơ quan xây dựng chính sách nên nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp hoặc phân tầng hợp lý để doanh nghiệp không có tâm lý “sợ lớn”, đồng thời phải có các biện pháp chống việc chia tách doanh nghiệp hoặc phân tán doanh thu một cách hình thức chỉ để đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi. Tuy vậy, đối với một chính sách cần triển khai nhanh trong hai năm 2026–2027, tôi không cho rằng nên thiết kế quá nhiều điều kiện, bởi càng phức tạp thì chi phí tuân thủ càng cao.
Theo tôi, có thể lấy ngưỡng 10 tỷ đồng làm tiêu chí chính để bảo đảm đơn giản, nhưng quá trình thực hiện phải được theo dõi, đánh giá bằng dữ liệu thực tế. Sau một thời gian cần phân tích theo ngành nghề, tỷ suất lợi nhuận, số lao động và khả năng phát triển để tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
PV: Một vấn đề được quan tâm là làm thế nào để khoản thuế được giảm thực sự trở thành nguồn lực phục vụ sản xuất, kinh doanh thay vì chỉ giúp doanh nghiệp giải quyết khó khăn trước mắt. Theo ông, chính sách cần được thiết kế hoặc triển khai như thế nào để tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn đối với nền kinh tế?
Theo tôi, điều đầu tiên là không nên biến một chính sách giảm thuế đơn giản thành một thủ tục xin – cho mới. Nếu doanh nghiệp phải làm hồ sơ chứng minh khó khăn, lập phương án sử dụng từng khoản tiền được giảm, chờ xét duyệt rồi mới được hưởng thì chi phí thủ tục có thể làm mất đi một phần ý nghĩa của chính sách.
Tôi đề xuất năm vấn đề. Thứ nhất, giảm thuế phải được thực hiện theo cơ chế tự động và minh bạch. Nếu dữ liệu doanh thu, nghĩa vụ thuế đã có trên hệ thống thì cơ quan thuế có thể xác định đối tượng và mức giảm ngay trong quá trình kê khai, quyết toán. Doanh nghiệp không phải “xin” để được hưởng quyền lợi mà pháp luật đã quy định.
Thứ hai, cần kết nối giảm thuế với chương trình chuyển đổi số. Doanh nghiệp được giữ lại nguồn lực, đồng thời Nhà nước hỗ trợ nền tảng kế toán, hóa đơn điện tử, quản trị và đào tạo kỹ năng số. Việc Cục Thuế chuẩn bị cung cấp nền tảng và phần mềm kế toán dùng chung miễn phí cho nhóm doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh là hướng đi rất phù hợp.
Thứ ba, cần tạo thêm động lực cho phần lợi nhuận được tái đầu tư. Thay vì buộc doanh nghiệp chứng minh từng đồng thuế được giảm đã sử dụng vào đâu, Nhà nước có thể thiết kế các chính sách bổ sung đối với đầu tư máy móc, công nghệ, nghiên cứu phát triển, chuyển đổi xanh, đào tạo lao động hoặc nâng cấp quản trị. Như vậy, doanh nghiệp vừa được giảm thuế chung, vừa có động lực mạnh hơn nếu đưa nguồn lực trở lại sản xuất.
Thứ tư, cần kết hợp chính sách tài khóa với chính sách tín dụng và thị trường. Một doanh nghiệp được giảm 100 triệu đồng tiền thuế nhưng nếu nhờ đó cải thiện được vốn đối ứng để tiếp cận thêm khoản tín dụng 500 triệu hoặc 1 tỷ đồng cho dự án khả thi thì sức lan tỏa sẽ lớn hơn nhiều. Tương tự, nếu doanh nghiệp được hỗ trợ kết nối thị trường, tham gia chuỗi cung ứng và có thêm đơn hàng thì khoản giảm thuế mới thực sự biến thành năng lực tăng trưởng.
Thứ năm, cần đo lường hiệu quả chính sách. Sau từng năm nên đánh giá số doanh nghiệp được hưởng, số tiền được giảm, tỷ lệ doanh nghiệp duy trì hoạt động, tăng lao động, tăng doanh thu, đầu tư công nghệ và mức đóng góp trở lại ngân sách. Mục tiêu cuối cùng không phải chỉ là “giảm được bao nhiêu tiền thuế”, mà phải trả lời được câu hỏi “khoản thuế được giảm đã tạo thêm bao nhiêu năng lực sản xuất cho nền kinh tế”.
Từ khóa: thuế thu nhập, thuế thu nhập,cục thuế, bộ tài chính, ngưỡng 10 tỷ ,vách đá chính sách
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: tuấn linh-nguyễn gia/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN