Điểm cộng IELTS: Bỏ quyền tự quy định, ai đặt “thước đo” mới?

Cập nhật: 36 phút trước

VOV.VN - Cùng IELTS 6.0 nhưng khi tuyển sinh đại học 2026, thí sinh có thể nhận 26 mức điểm cộng khác nhau tùy từng trường. Dự thảo tuyển sinh 2027 dự kiến không để các trường tự quy định điểm cộng với chứng chỉ này. IELTS vẫn được sử dụng, đặt ra vấn đề: Thước đo nào để xác định giá trị chứng chỉ và bảo đảm công bằng.

26 mức điểm cộng IELTS: Cùng chứng chỉ, khác lợi thế

Một IELTS 6.0 không đổi, nhưng giá trị của chứng chỉ này trong xét tuyển đại học năm 2026 lại phụ thuộc vào từng trường.

Cùng IELTS 6.0, Trường Đại học Luật Hà Nội cộng 0,5 điểm vào tổng điểm xét tuyển; Trường Đại học Y Hà Nội tính 0,75 điểm; Trường Đại học Thương mại và Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế cộng 1 điểm. Trong khi đó, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội sử dụng cách tính theo thang điểm 100. Theo thông tin Bộ GD-ĐT công bố, IELTS 6.0 được các cơ sở đào tạo tính thành 26 mức điểm cộng khác nhau.

Như vậy, cùng một chứng chỉ nhưng khi đưa vào công thức xét tuyển, giá trị có thể khác nhau giữa các cơ sở đào tạo. Ở những ngành có điểm chuẩn cao, chênh lệch 0,5 hay 1 điểm có thể ảnh hưởng đáng kể đến thứ tự xét tuyển.

Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, năm 2026 có hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm, trong đó hơn 35.900 thí sinh sử dụng IELTS. IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất, với 8.318 thí sinh, nhưng được các trường quy định thành 26 mức điểm cộng khác nhau.

Dữ liệu Bộ GD-ĐT phân tích cho thấy, ở nhóm ngành thuộc tốp 5% có điểm chuẩn cao, với ngưỡng tham chiếu 26,09/30, hơn 30% người nhập học có điểm cộng. Trong khi đó, tỷ lệ này ở nhóm ngoài tốp 25% chỉ là 9,51%.

Đáng chú ý, trong ba phương thức không có cấu phần ngoại ngữ riêng gồm điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ và phương thức kết hợp, 51,42% thí sinh có điểm cộng có điểm gốc thấp hơn mức trúng tuyển của ngành.

Theo ông Thảo, những con số này không xác định được từng thí sinh có điểm cộng đã trực tiếp thay thế một thí sinh cụ thể khác. Tuy nhiên, dữ liệu cho thấy điểm cộng có thể trở thành yếu tố đáng kể trong những cuộc cạnh tranh sát điểm.

Bộ cũng phân tích trường hợp ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng thí sinh vẫn được cộng điểm nhờ chứng chỉ tiếng Anh, hoặc tổ hợp đã có môn tiếng Anh nhưng chứng chỉ tiếp tục được dùng để cộng thêm. Khi đó, theo ông Thảo, có thể xảy ra tình trạng “một năng lực được tính hai lần”.

Từ năm 2026, điểm cộng chứng chỉ đã được khống chế tối đa 1,5/30 điểm. Tuy nhiên, việc mỗi trường tự xác định cách cộng vẫn tạo ra những mức giá trị khác nhau. Đây là một trong những vấn đề được đặt ra khi xây dựng quy định mới.

Cần hiểu chính xác: dự thảo không bỏ IELTS khỏi tuyển sinh. Điều thay đổi là cơ sở đào tạo không còn được tự quy định điểm cộng đối với chứng chỉ, thành tích hoặc các tiêu chí bổ sung theo cách như trước.

Quy đổi thế nào cho công bằng?

Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, chứng chỉ ngoại ngữ vẫn có thể được sử dụng trong tuyển sinh. Nếu ngành đào tạo cần ngoại ngữ, IELTS có thể được quy đổi để thay thế điểm môn Ngoại ngữ trong tổ hợp phù hợp. Với chương trình giảng dạy bằng ngoại ngữ có yêu cầu đầu vào, chứng chỉ cũng có thể được sử dụng để xác nhận năng lực của thí sinh.

"Bộ GD-ĐThiện chưa có đủ cơ sở khoa học để đưa ra ngay một thang quy đổi IELTS chung cho toàn quốc. Muốn xây dựng thang quy đổi chung cần dữ liệu đủ lớn, chính xác, cùng nghiên cứu, đánh giá và luận cứ khoa học đi kèm",GS.TS Nguyễn Tiến Thảo.

Như vậy, khi khoản điểm cộng được đưa ra khỏi công thức, bài toán không kết thúc mà chuyển sang câu hỏi khác: IELTS 6.0 sẽ được quy đổi thành bao nhiêu điểm và theo nguyên tắc nào? Thực tế tuyển sinh 2026 cho thấy cách quy đổi điểm môn tiếng Anh cũng chưa thống nhất. Với IELTS 6.0, có trường quy đổi tương đương 8 điểm tiếng Anh, trường khác 8,5; 9 hoặc 9,5 điểm.

Đây là hai cơ chế cần phân biệt: 26 mức điểm cộng là việc cộng thêm lợi thế ngoài thang điểm chính; còn quy đổi IELTS là đưa chứng chỉ về thang điểm của môn Ngoại ngữ. Tuy nhiên, cả hai đều liên quan trực tiếp đến giá trị của cùng một chứng chỉ trong cạnh tranh tuyển sinh.

Thầy Nguyễn Văn Thùy (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia TP.HCM) cho rằng vấn đề không nằm ở việc có ghi nhận IELTS hay không, mà quan trọng là chứng chỉ được ghi nhận bằng cách nào.

Theo thầy, nếu IELTS được sử dụng để tạo lợi thế trong tuyển sinh, cách ghi nhận cần vừa phản ánh đúng năng lực ngoại ngữ, vừa tránh làm méo mó cạnh tranh giữa những thí sinh có điều kiện tiếp cận chứng chỉ khác nhau. Từ dữ liệu tuyển sinh 2026, cùng IELTS 6.0 nhưng có tới 26 mức điểm cộng khác nhau. Trong những cuộc cạnh tranh sát điểm, chênh lệch 0,5 hay 1 điểm không còn là con số mang tính tượng trưng.

Thầy Thùy cho rằng nếu một năng lực được ghi nhận bằng điểm số để tham gia cạnh tranh tuyển sinh thì cần có cơ sở xác định giá trị của điểm số đó. Đây cũng là lý do câu chuyện IELTS sau khi bỏ điểm cộng không chỉ là chuyện kỹ thuật quy đổi, mà liên quan đến cách thiết kế công thức xét tuyển.

Nếu ngành đào tạo thực sự cần tiếng Anh, chứng chỉ có thể được sử dụng để chứng minh năng lực ngoại ngữ hoặc thay thế điểm môn tiếng Anh. Cách này khác với việc cộng thêm một khoản điểm nằm ngoài thang điểm chính.

Từ góc nhìn đó, câu hỏi cần đặt ra không còn là “có bỏ IELTS hay không”, mà là IELTS được đặt ở đâu trong công thức tuyển sinh và giá trị của nó được xác định trên cơ sở nào?

Cần“cây thước” chung để quy đổi

Đây là điểm khó nhất khi chuyển từ cơ chế điểm cộng sang quy đổi. Một số ý kiến cho rằng Bộ GD-ĐT nên nghiên cứu thang quy đổi chung để tránh tình trạng cùng IELTS 6.0 nhưng mỗi trường định giá một cách. Tuy nhiên, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho biết Bộ hiện chưa có đủ cơ sở khoa học để đưa ra ngay một thang quy đổi IELTS chung cho toàn quốc. Theo ông, muốn xây dựng thang quy đổi chung cần dữ liệu đủ lớn, chính xác, cùng nghiên cứu, đánh giá và luận cứ khoa học đi kèm.

Trong khi đó, các trường có dữ liệu riêng về thí sinh và quá trình học tập sau tuyển sinh. Vì vậy, trong một số trường hợp, việc xây dựng mức quy đổi dựa trên dữ liệu của chính trường có thể sát hơn với yêu cầu của từng chương trình đào tạo.

Điều này tạo ra một bài toán hai chiều. Nếu Bộ đặt một “cây thước” chung, cần trả lời căn cứ khoa học nào để thang điểm đó phù hợp với những ngành có yêu cầu ngoại ngữ khác nhau.

Nếu tiếp tục để trường tự quy đổi, nguyên tắc nào bảo đảm cùng một chứng chỉ không bị định giá quá khác nhau giữa các cơ sở đào tạo?

ThS. Cù Xuân Tiến, Trưởng phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG TP.HCM), cho biết nếu quy định mới được áp dụng, trường có thể chuyển từ cộng IELTS thành một khoản điểm riêng sang quy đổi chứng chỉ thành điểm môn tiếng Anh trong những tổ hợp có môn này. Theo ông, cách làm này vẫn ghi nhận năng lực ngoại ngữ của thí sinh nhưng không tạo thêm một khoản điểm nằm ngoài thang điểm chính.

Theo ông Tiến, dữ liệu của trường cho thấy điểm học lực bình quân của thí sinh trúng tuyển có và không có IELTS tương đương nhau, nhưng điểm xét tuyển trung bình có thể chênh 2-5 điểm do tác động của điểm cộng. Cách chuyển sang quy đổi có thể giúp chứng chỉ tiếp tục ghi nhận năng lực tiếng Anh mà không tạo thêm một khoản điểm ngoài thang điểm chính. Nhưng nó đồng thời làm rõ hơn yêu cầu phải minh bạch về cách quy đổi.

Từ góc độ phụ huynh, điều được quan tâm không chỉ là IELTS có còn được sử dụng hay không mà còn là giá trị của chứng chỉ sẽ được xác định như thế nào?

Chị Nguyễn Hải Yến, phụ huynh ở Đống Đa, có con đang học lớp 12 và đã học IELTS từ lớp 9. Con đã đạt 7.5 và gia đình dự kiến tiếp tục thi để hướng tới mức 8.0, phục vụ định hướng vào các ngành liên quan tiếng Anh.

Theo chị Yến, nếu chứng chỉ vẫn được sử dụng nhưng cách quy đổi thay đổi, quy định mới cần được công bố rõ: IELTS được dùng ở phương thức nào, quy đổi ra sao và mức quy đổi có thống nhất hay không. Bởi nếu cùng một chứng chỉ nhưng mỗi trường xác định một giá trị khác nhau, phụ huynh và học sinh sẽ khó tính toán được lợi thế thực tế của chứng chỉ khi lựa chọn ngành, trường.

Với những học sinh đã dành nhiều năm chuẩn bị IELTS, thời điểm công bố chính sách cũng là vấn đề đáng lưu ý. Học sinh cần biết sớm chứng chỉ sẽ được ghi nhận theo nguyên tắc nào để quyết định tiếp tục đầu tư vào IELTS, tập trung vào điểm thi tốt nghiệp THPT hay chuẩn bị theo phương thức xét tuyển khác.

Nguyễn Khoa Nguyên, học sinh một trường THPT tại Hà Nộicho rằng việc điều chỉnh chính sách có thể hướng tới giảm chênh lệch cơ hội giữa học sinh có điều kiện tiếp cận chứng chỉ và những em không có điều kiện. Tuy nhiên, với những học sinh đã chuẩn bị IELTS từ sớm, điều quan trọng là phải có lộ trình và thông tin đủ sớm để không bị động trước thay đổi.

Những băn khoăn này cho thấy, khi cơ chế điểm cộng được thu hẹp, câu chuyện về IELTS không kết thúc mà chuyển sang một bài toán khác: định giá chứng chỉ trên thang điểm tuyển sinh.

Dự thảo tuyển sinh 2027 hướng tới xử lý sự khác biệt do các trường tự quy định mức điểm cộng. Nhưng nếu IELTS tiếp tục được sử dụng để quy đổi thành điểm môn Ngoại ngữ, một câu hỏi quan trọng vẫn cần được làm rõ: ai đặt “thước đo” và căn cứ nào để chứng minh thang quy đổi đó phù hợp, minh bạch, bảo đảm công bằng trong xét tuyển?

Bởi bỏ điểm cộng có thể thay đổi cách tính, nhưng chưa giải quyết hết bài toán về cách ghi nhận cùng một năng lực trên thang điểm tuyển sinh.

Từ khóa: điểm cộng IELTS, VOV, điểm cộng IELTS, tuyển sinh đại học 2027, quy đổi IELTS, IELTS 6.0, điểm cộng chứng chỉ, dự thảo tuyển sinh, Bộ GDĐT

Thể loại: Xã hội

Tác giả: thu hằng/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập