Đại biểu Quốc hội: Nhân lực bảo vệ trẻ em ở cơ sở đang "mỏng dịch vụ, dày thủ tục"
Cập nhật: 2 giờ trước
Ngư dân cào giắt ở Sầm Sơn: Mưu sinh nhọc nhằn, tiền về theo từng con sóng
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10: Điều gì đang khiến phụ huynh, học sinh kiệt sức?
VOV.VN - Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh cho rằng, hơn 70% số cán bộ làm công tác trẻ em ở cấp xã hiện đang kiêm nhiệm, thường là cán bộ phụ trách văn hóa - xã hội hoặc công tác đoàn thể. Nhiều người chưa được đào tạo về tâm lý học, công tác xã hội hoặc kỹ năng quản lý tình huống.
Những vụ bạo hành trẻ em rúng động liên tiếp xảy ra tại Hà Nội và TP.HCM bởi chính cha dượng, mẹ đẻ đã gióng lên hồi chuông cảnh báo đỏ về sự an toàn của trẻ ngay trong chính ngôi nhà mình. Tại sao hệ thống pháp luật đã hoàn thiện nhưng bi kịch vẫn âm thầm diễn ra? Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) đã có những phân tích thẳng thắn về vấn đề này.
PV: Thưa bà, mới đây tại Hà Nội và TP.HCM liên tiếp xảy ra 2 vụ bạo hành trẻ em gây rúng động dư luận xã hội. Điểm chung của cả 2 vụ việc này là trẻ bị bạo hành bởi chính cha dượng, mẹ đẻ trong chính ngôi nhà của mình. Dù đã có hệ thống pháp luật về bảo vệ trẻ em, nhưng các vụ bạo hành trẻ em vẫn âm thầm diễn ra ở những nơi đáng ra trẻ được bảo vệ và yêu thương. Theo bà đâu là lỗ hổng để tình trạng này tiếp diễn?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Hai vụ việc xảy ra liên tiếp tại Hà Nội và TP.HCM – đều do cha dượng và mẹ đẻ gây ra ngay trong ngôi nhà của trẻ – không phải là những sự cố đơn lẻ, mà là biểu hiện của một cấu trúc rủi ro có tính hệ thống. Theo báo cáo của Bộ Công an, từ năm 2020 đến 2025, cả nước phát hiện 12.873 vụ xâm hại với 13.460 trẻ em là nạn nhân và còn rất nhiều vụ, việc chưa được phát hiện. Con số này cho thấy ngôi nhà – thay vì là nơi an toàn nhất – đang là môi trường rủi ro cao nhất đối với trẻ em.
Lỗ hổng ở đây không nằm ở việc thiếu luật. Luật Trẻ em 2016, Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2022 đều có. Lỗ hổng nằm ở ba tầng sâu hơn: Thứ nhất, thiếu cơ chế nhận diện sớm mang tính hệ thống. Bạo hành trong gia đình về bản chất là tội phạm kín – xảy ra sau cánh cửa đóng, không có nhân chứng ngoại trừ chính nạn nhân, thường là trẻ nhỏ chưa có khả năng tự báo cáo. Luật có nhưng không có kênh quan sát định kỳ, không có công cụ sàng lọc nguy cơ theo hộ gia đình – đặc biệt với các hộ có cấu trúc gia đình tái hợp.
Thứ hai, bối cảnh nhân khẩu học đang gia tăng nhóm nguy cơ. Việt Nam hiện có hơn 2,3 triệu người ly hôn hoặc ly thân theo Điều tra giữa kỳ dân số 2024. Mỗi năm khoảng 60.000 vụ ly hôn được ghi nhận – tương đương 30% số cặp kết hôn – trong đó 70% là các cặp vợ chồng trẻ từ 18 đến 30 tuổi, và 60% xảy ra sau chỉ một đến năm năm chung sống. Đằng sau mỗi vụ ly hôn là những đứa trẻ tiếp tục sống trong các cấu hình gia đình mới, trong đó trẻ sống với cha dượng, mẹ kế, hoặc trong gia đình có bạo hành, ly hôn, thất nghiệp, lạm dụng bia rượu có nguy cơ bị bạo hành cao hơn – nhưng hệ thống bảo vệ trẻ em chưa có phương thức theo dõi các hộ gia đình thuộc nhóm nguy cơ này.
Thứ ba, khoảng cách giữa quy định và thực thi còn rất lớn. Pháp luật đã giao trách nhiệm xử lý cho nhiều cơ quan như công an, UBND cấp xã và cấp tỉnh. Tuy nhiên, thực tế số vụ xử lý vẫn còn rất ít, khiến hiệu quả răn đe và giáo dục pháp luật trong phòng chống bạo lực, bảo vệ trẻ em còn hạn chế.
PV: Nhiều vụ bạo hành, xâm hại trẻ em khi được phát hiện thì đã quá muộn, để lại hậu quả thương tâm. Theo bà, vì sao chúng ta khó phát hiện sớm những vụ việc này?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Khó phát hiện sớm là kết quả tất yếu của một chuỗi thất bại có thể phân tích rõ ràng.
Nguyên nhân trực tiếp đó là trẻ bị bạo hành trong gia đình – đặc biệt trẻ nhỏ dưới 5 tuổi – gần như không có khả năng tự vệ, rất dễ trở thành nạn nhân của các hành vi bỏ đói, đánh đập, gây thương tích, không được chữa trị hoặc không được đưa đi cấp cứu kịp thời. Người gây hại lại chính là người chăm sóc, nên không có ai trong vòng trong để báo cáo.
Nguyên nhân thứ hai, cộng đồng xung quanh thiếu kỹ năng nhận diện dấu hiệu cảnh báo. Nhiều người lớn vẫn nghĩ rằng chỉ khi đánh đến nhập viện mới gọi là bạo hành, trong khi thực tế việc thường xuyên chửi bới, đe dọa, làm nhục, ép trẻ sống trong sợ hãi cũng là một dạng bạo lực tinh thần rất nghiêm trọng. Giáo viên, hàng xóm, tổ trưởng dân phố không được trang bị công cụ nhận diện sớm cũng không có nghĩa vụ pháp lý rõ ràng buộc họ phải báo cáo.
Nguyên nhân thứ ba là quan niệm"chuyện nhà người ta". Tâm lý không can thiệp vào việc nội bộ gia đình khiến nhiều người chứng kiến dấu hiệu bất thường nhưng chọn im lặng. Điều đáng buồn là nhiều đứa trẻ lớn lên trong môi trường như vậy sẽ dần coi bạo lực là điều bình thường và nguy cơ lặp lại hành vi đó với thế hệ sau là rất lớn – bạo lực trong gia đình thường không dừng lại ở một thế hệ nếu xã hội không đủ quyết liệt để thay đổi nhận thức.
Về mặt số liệu, khoảng cách giữa thực tế và thống kê rất đáng lo. Theo báo cáo của Bộ Công an, từ năm 2020 đến 2025, cả nước phát hiện 12.873 vụ xâm hại với 13.460 trẻ em là nạn nhân. Đây là con số được phát hiện – con số thực tế còn lớn hơn rất nhiều, bởi phần lớn các vụ bạo hành xảy ra âm thầm và chỉ bị lộ khi hậu quả đã quá nghiêm trọng.
PV: Bà đánh giá thế nào về công tác bảo vệ trẻ em tại chính quyền cơ sở hiện nay, nhất là sau khi chuyển sang chính quyền địa phương 2 cấp, số lượng cán bộ phụ trách mảng này đã thực sự đảm bảo chất lượng và số lượng hay chưa?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Tôi cho rằng chưa đảm bảo về cả số lượng và chất lượng, Và đây là thời điểm cần đánh giá nghiêm túc.
Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp mang lại nhiều lợi ích về tinh gọn bộ máy và phân cấp thực quyền xuống cơ sở. Tuy nhiên, trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em, quá trình chuyển đổi đang bộc lộ những bất cập về nhân lực.
Hơn 70% số cán bộ làm công tác trẻ em ở cấp xã hiện đang kiêm nhiệm, thường là cán bộ phụ trách văn hóa - xã hội hoặc công tác đoàn thể. Nhiều người chưa được đào tạo về tâm lý học, công tác xã hội hoặc kỹ năng quản lý tình huống, trong khi phải xử lý các vụ việc ngày càng phức tạp.
Điều này dẫn đến hệ quả trực tiếp là sự thiếu hụt nhân sự chuyên trách khiến quá trình phát hiện và can thiệp sớm các vụ việc vi phạm quyền trẻ em thường chậm trễ hoặc mang tính hình thức – ở những địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, cán bộ phụ trách còn phải đảm nhiệm nhiều chương trình mục tiêu khác, dẫn đến tình trạng "mỏng dịch vụ - dày thủ tục".
Tôi đề nghị Quốc hội và Chính phủ sớm tiến hành điều tra, thống kê toàn quốc về năng lực đội ngũ công chức làm công tác bảo vệ trẻ em sau tái cơ cấu tổ chức. Chính Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam đãkhuyến nghị cần thực hiện điều tra, thống kê lại sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp để nhận diện rõ các "lỗ hổng". Sau gần một năm vận hành, đây là thời điểm đánh giá không thể trì hoãn.
PV: Trong công tác bảo vệ trẻ em, không chỉ cần hành lang pháp lý, cơ quan chức năng, mà còn cần sự vào cuộc của cả cộng đồng, đó là những giáo viên tiếp xúc với trẻ hàng ngày, những người hàng xóm, là các tổ trưởng tổ dân phố, hội phụ nữ... Theo bà cần giải pháp nào để tăng cường sự tham gia có hiệu quả của những nhóm trên trong phòng ngừa và phát hiện sớm bạo hành trẻ em?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Sự tham gia của cộng đồng không thể chỉ dừng lại ở kêu gọi tinh thần. Cần có thiết kế hệ thống rõ ràng với ba nhóm giải pháp cụ thể.
Một là, xây dựng nghĩa vụ báo cáo bắt buộc có chế tài. Hiện nay, giáo viên, nhân viên y tế, hay hàng xóm không có nghĩa vụ pháp lý rõ ràng khi phát hiện dấu hiệu bạo hành. Quốc hội cần xem xét bổ sung vào Luật Trẻ em quy định về "nghĩa vụ báo cáo bắt buộc" (mandatory reporting obligation) – như mô hình đang áp dụng tại Australia, Canada, và nhiều quốc gia châu Âu – buộc các nhóm chuyên nghiệp tiếp xúc thường xuyên với trẻ như giáo viên, bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên xã hội phải báo cáo khi có cơ sở nghi ngờ bạo hành, và có chế tài khi không báo cáo.
Hai là, chuẩn hóa kỹ năng nhận diện cho các nhóm tiếp xúc trực tiếp. Giáo viên là tuyến đầu hiệu quả nhất nếu được trang bị đúng công cụ. Thầy cô cần chú ý khi học sinh bỗng nhiên rúm ró, sợ hãi, hay tư thế ngồi bị lệch như đang đau – đó có thể là dấu hiệu trẻ đã phải chứng kiến bạo lực hoặc là nạn nhân của bạo lực. Tuy nhiên nhận biết được điều này đòi hỏi đào tạo có hệ thống, không thể chỉ dừng ở ý thức cá nhân. Tương tự, tổ trưởng dân phố và hội phụ nữ cần được cung cấp danh sách các dấu hiệu cảnh báo cụ thể và quy trình chuyển tuyến rõ ràng.
Ba là, kích hoạt mạng lưới "địa chỉ tin cậy" cộng đồng theo mô hình đã được chứng minh. Tổng Bí thư đã chỉ đạo nhân rộng các mô hình như "Ngôi nhà bình yên", "Địa chỉ tin cậy", "Con nuôi công an xã" trong kết luận tháng 11/2025. Đây là định hướng đúng, nhưng cần có ngân sách, chuẩn mực hoạt động và cơ chế giám sát cụ thể để tránh tình trạng hình thức. Nghiên cứu của Save the Children cho thấy hơn 30% mô hình "Ngôi nhà an toàn", "Câu lạc bộ quyền trẻ em" có thể bị đình trệ khi có thay đổi nhân sự hoặc nguồn tài trợ địa phương bị cắt giảm – đây là rủi ro thực tế cần được phòng ngừa thể chế, không thể để phụ thuộc vào nhiệt tình cá nhân.
Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh: bảo vệ trẻ em trong gia đình không thể chỉ là phản ứng sau khi bi kịch đã xảy ra. Cần chuyển từ tư duy xử lý hậu quả sang tư duy phòng ngừa có dữ liệu – tức là xây dựng hệ thống nhận diện sớm dựa trên hồ sơ nguy cơ hộ gia đình, tích hợp giữa ngành lao động – thương binh – xã hội, y tế, giáo dục và công an cấp cơ sở. Đây là bước đi không thể chậm hơn nữa.
PV: Xin cảm ơn bà!
Từ khóa: trẻ em, đại biểu quốc hội, nhân lực bảo vệ trẻ em, chính quyền 2 cấp, bảo vệ trẻ em, bạo hành trẻ em,xâm hại trẻ em,vụ cháu bé 4 tuổi tại hà nội bị bạo hành tử vong,cháu bé 2 tuổi tại tphcm bị bạo hành,trẻ em
Thể loại: Xã hội
Tác giả: nguyễn trang/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN