Chuyên gia hiến kế nâng chất lượng dòng vốn FDI
Cập nhật: 56 phút trước
Chuyên gia hiến kế nâng chất lượng dòng vốn FDI
Lạm phát trở lại, doanh nghiệp Nhật Bản đối mặt bài toán sinh tồn
VOV.VN - Trong cuộc đua thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, "xanh hóa" hạ tầng và năng lượng không còn là tiêu chí khuyến khích mà đã trở thành điều kiện tiên quyết. Để giữ chân các tập đoàn công nghệ toàn cầu, Việt Nam phải nhanh chóng chuyển đổi mô hình từ các khu công nghiệp truyền thống sang các hệ sinh thái tuần hoàn, bảo đảm nguồn cung năng lượng sạch và bền vững.
Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam, đóng góp đáng kể vào xuất khẩu, tạo việc làm và thu hút nguồn lực cho phát triển.
Trong bối cảnh mới, Việt Nam không còn nhiều lợi thế cạnh tranh dựa trên chi phí lao động thấp hay ưu đãi đầu tư đơn thuần. Đồng thời, xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và làn sóng đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh đang tạo ra cả cơ hội lẫn sức ép cạnh tranh giữa các quốc gia trong thu hút FDI.
Vì vậy, việc thu hút FDI có chọn lọc không chỉ là sự thay đổi trong chính sách đầu tư mà còn là yêu cầu tất yếu để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.
Để làm rõ hơn bức tranh này và đề xuất các giải pháp trong giai đoạn mới, TS Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (TP.HCM) đã chia sẻ cùng Phóng Viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam xung quanh nội dung này.
PV: So với 5–10 năm trước, dòng vốn FDI đang có sự chuyển dịch tích cực. Ông đánh giá như thế nào về chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay? Xu hướng có gì thay đổi so với 5–10 năm trước?
TS Huỳnh Thanh Điền: So với 5–10 năm trước, dòng vốn FDI đang có sự chuyển dịch tích cực. Trước đây, nhà đầu tư chủ yếu tìm kiếm lợi thế về lao động, đất đai và ưu đãi thuế; hiện nay, ngày càng nhiều dự án quan tâm đến công nghệ cao, điện tử, bán dẫn, chuyển đổi số, sản xuất xanh, năng lượng sạch, nghiên cứu và phát triển.
Nhà đầu tư cũng đặt yêu cầu cao hơn đối với nguồn nhân lực, hạ tầng logistics, năng lượng ổn định, dữ liệu và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường.
Tuy nhiên, chất lượng FDI vẫn chưa đồng đều. Một bộ phận lớn dự án còn tập trung ở khâu gia công, lắp ráp; giá trị gia tăng trong nước, chuyển giao công nghệ và mức độ liên kết với doanh nghiệp Việt Nam chưa tương xứng với quy mô vốn đầu tư.
Vì vậy, có thể nói dòng vốn FDI vào Việt Nam đang được nâng chất, nhưng quá trình chuyển từ “thu hút nhiều” sang “thu hút có chọn lọc và tạo giá trị lan tỏa” vẫn cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn.
PV:Theo ông, đâu là những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá "chất lượng" của dòng vốn FDI, thay vì chỉ nhìn vào quy mô vốn đăng ký hay vốn giải ngân.
TS Huỳnh Thanh Điền: Chất lượng FDI không nên chỉ được đánh giá bằng quy mô vốn đăng ký, tỷ lệ giải ngân hay số lượng dự án. Tiêu chí quan trọng nhất phải là mức độ đóng góp của dự án FDI vào việc hình thành và phát triển năng lực sản xuất nội địa.
Trước hết, dự án FDI phải tạo được sự kết nối với doanh nghiệp trong nước, hình thành mạng lưới nhà cung ứng nội địa và nâng tỷ lệ giá trị được tạo ra tại Việt Nam. Khi doanh nghiệp Việt Nam có thể cung cấp nguyên liệu, linh kiện, dịch vụ kỹ thuật, logistics và các giải pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp FDI, dòng vốn này mới thực sự ăn sâu, bám rễ và trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế.
Thứ hai là hàm lượng công nghệ, hoạt động nghiên cứu và phát triển, khả năng chuyển giao công nghệ và tác động nâng cao năng lực quản trị cho doanh nghiệp Việt Nam. Một dự án có quy mô vốn lớn nhưng chủ yếu nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu và thực hiện công đoạn lắp ráp đơn giản thì giá trị lan tỏa sẽ không cao.
Thứ ba là chất lượng việc làm và khả năng phát triển nguồn nhân lực. FDI chất lượng cao phải tạo ra việc làm có năng suất, thu nhập và hàm lượng kỹ năng cao; đồng thời tham gia đào tạo kỹ sư, chuyên gia, đội ngũ quản lý và lao động kỹ thuật trong nước.
Thứ tư là mức độ đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm phát thải và phát triển mô hình sản xuất bền vững. Trong bối cảnh mới, đây không chỉ là tiêu chí môi trường mà còn là điều kiện để hàng hóa Việt Nam duy trì khả năng tiếp cận các thị trường lớn.
Cuối cùng là hiệu quả tổng thể đối với nền kinh tế, bao gồm giá trị gia tăng, năng suất, đóng góp ngân sách, hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng và tài nguyên, mức độ tuân thủ pháp luật cũng như khả năng phát triển các ngành, cụm ngành và địa phương.
Như vậy, Việt Nam không nhất thiết phải thu hút FDI bằng mọi giá. Điều cần hướng đến là những dự án có công nghệ cao, sử dụng hiệu quả nguồn lực, có khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước và góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất.
PV:Đâu là những điểm nghẽn lớn nhất đang cản trở Việt Nam nâng cao chất lượng thu hút FDI thưa ông?
TS Huỳnh Thanh Điền:Điểm nghẽn lớn nhất không chỉ nằm ở hạ tầng vật chất mà còn ở “hạ tầng liên kết” giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Việt Nam chưa hình thành được đầy đủ các hệ sinh thái sản xuất và cụm ngành có sự tham gia chặt chẽ của cả hai khu vực.
Hạ tầng giao thông và logistics chưa đồng bộ làm tăng chi phí vận chuyển, lưu kho và thời gian giao hàng. Nguồn điện và năng lượng sạch tại một số địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu của những ngành sản xuất công nghệ cao, tiêu thụ nhiều điện và đòi hỏi nguồn cung ổn định. Nguồn nhân lực có kỹ năng chuyên sâu, nhất là kỹ sư, chuyên gia công nghệ và quản lý chuỗi cung ứng, cũng còn thiếu.
Đáng chú ý, dòng vốn của doanh nghiệp trong nước chưa được khuyến khích đủ mạnh để đầu tư vào sản xuất, công nghiệp hỗ trợ và đổi mới công nghệ. Một phần nguồn lực vẫn có xu hướng tập trung vào bất động sản, tài chính hoặc những hoạt động có tính đầu cơ.
Việt Nam cũng chưa quy hoạch rõ chuỗi giá trị của từng ngành để xác định doanh nghiệp FDI giữ vai trò gì, doanh nghiệp trong nước tham gia vào những công đoạn nào và Nhà nước cần hỗ trợ những năng lực gì.
Nhiều chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ đã được ban hành, nhưng cơ hội thị trường, đầu ra và khả năng kết nối với khách hàng lớn chưa rõ ràng nên chưa đủ sức hấp dẫn doanh nghiệp tham gia.
Vấn đề cốt lõi hiện nay là thiếu một cơ chế tổ chức thực hiện có mục tiêu, có đối tượng tham gia, có doanh nghiệp dẫn dắt và có kết quả đầu ra được đo lường cụ thể.
PV:Để nâng cao chất lượng dòng vốn FDI trong giai đoạn tới, ông sẽ đề xuất những giải pháp nào và vì sao?
TS Huỳnh Thanh Điền: Trước hết, Việt Nam cần thiết kế lại chính sách thu hút FDI trên cơ sở quy hoạch các khu, cụm liên kết ngành mở, thay vì thu hút từng dự án riêng lẻ.
Đối với mỗi ngành, cần xác định rõ doanh nghiệp FDI tham gia vào những khâu nào, doanh nghiệp trong nước có khả năng đảm nhận những công đoạn nào và Nhà nước cần đầu tư, hỗ trợ những điều kiện gì để hình thành một chuỗi giá trị hoàn chỉnh.
Trên cơ sở đó, chính sách ưu đãi cần được thiết kế theo mức độ đóng góp của dự án vào hệ sinh thái sản xuất trong nước. Doanh nghiệp FDI có tỷ lệ nội địa hóa cao, sử dụng nhà cung ứng Việt Nam, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, thực hiện nghiên cứu và phát triển hoặc hỗ trợ doanh nghiệp nội địa nâng cấp năng lực cần được ưu tiên hơn. Như vậy, ưu đãi không chỉ nhằm thu hút vốn mà phải tạo ra liên kết và giá trị lan tỏa.
Việt Nam cũng cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và lựa chọn dự án FDI một cách rõ ràng, bao gồm hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng trong nước, hiệu quả sử dụng đất đai và năng lượng, chất lượng việc làm, mức độ chuyển giao công nghệ, khả năng kết nối doanh nghiệp nội địa, tiêu chuẩn môi trường và đóng góp cho phát triển bền vững.
Các tiêu chí này phải được sử dụng xuyên suốt từ khâu lựa chọn, cấp phép đến giám sát quá trình thực hiện dự án.
Một yêu cầu quan trọng khác là chuyển chính sách thành các chương trình hành động cụ thể, trong đó doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề phải giữ vai trò trung tâm.
Chính sách chỉ thực sự có hiệu quả khi doanh nghiệp tham gia, được hưởng lợi và nâng cao được năng lực cạnh tranh. Do đó, số lượng doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng, giá trị đơn hàng nội địa, tỷ lệ nội địa hóa, số dự án chuyển giao công nghệ và số lao động được đào tạo cần trở thành những thước đo quan trọng của chính sách FDI.
Đồng thời, cần có chương trình hỗ trợ có trọng tâm cho doanh nghiệp trong nước đầu tư tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cuối cùng, cần hình thành một cơ chế đầu mối đủ mạnh để kết nối giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước, ngân hàng, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và chính quyền địa phương.
Chất lượng FDI không chỉ phụ thuộc vào bản thân nhà đầu tư mà còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức và vận hành hệ sinh thái sản xuất của Việt Nam.
PV:Xin cảm ơn ông!
Từ khóa: FDI, doanh nghiệp, phát triển bền vững, doanh nghiệp Việt Nam, dòng vốn FDI, hạ tầng,Nghị quyết số 10, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: ctv tú uyên/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN