Chuyển đổi số và AI: Chìa khóa đưa phụ nữ vào sâu tâm điểm ra quyết định

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội và các cơ quan dân cử ở Việt Nam vài năm gần đây tăng đáng kể. Tuy nhiên, để các Quyết sách của Đảng, Nhà nước đi vào cuộc sống và sự tham gia của phụ nữ thành động lực nâng cao chất lượng chính sách, thúc đẩy phát triển bền vững, nhiều rào cản về cơ chế, nhận thức cần được tháo gỡ.

Việt Nam ở nhóm trung bình khá về tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội

“Với tỷ lệ 30,26% nữ đại biểu Quốc hội trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, Việt Nam đang thuộc nhóm trung bình cao trên thế giới”, đây là nhận định của PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa, Giảng viên cao cấp, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khi nhắc tới vấn đề phụ nữ tham gia trong các cơ quan quyền lực nhà nước.

Những năm gần đây, sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội, HĐND và bộ máy hành chính ở Việt Nam đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, tích cực.

PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa cho biết: “Tỷ lệ này cao hơn mức trung bình toàn cầu (26,9%), đưa Việt Nam đứng thứ 51 trong tổng số 190 quốc gia thành viên của Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) và đứng thứ 4 trong ASEAN (chỉ sau Phillipines, Lào và Singapore)”.

Tuy vậy, ở cấp chính quyền địa phương, tỷ lệ phụ nữ tham gia mới đạt khoảng 29%, thấp hơn mức trung bình toàn cầu (35,5%). Theo ông, điều đó cho thấy vị trí của Việt Nam hiện ở mức trung bình khá và cần tiếp tục cải thiện trong nhiệm kỳ tới để nâng cao mức độ tham gia thực chất của phụ nữ.

Dù tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy các cấp và trong các cơ quan dân cử đã tiệm cận 30%, đặc biệt gần 50% cán bộ chủ chốt tại một số bộ, ngành, song khoảng cách giữa số lượng và mức độ tham gia thực chất vẫn tồn tại.

PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa nhận định: “Trên thực tế vẫn còn khoảng cách về số lượng và chất lượng, đặc biệt trong việc tham gia hoạch định và thực thi chính sách ở cả Trung ương và địa phương”.

Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau. Trước hết, các khuôn mẫu văn hóa, nhận thức và định kiến giới vẫn tồn tại ở một số địa bàn, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và miền núi, phần nào ảnh hưởng đến cơ hội tham gia của phụ nữ trong đời sống chính trị nói chung và quản lý nhà nước nói riêng.

Bên cạnh đó, thể chế và cơ chế vận hành ở một số lĩnh vực vẫn chưa thực sự hoàn thiện, chưa tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ tham gia sâu vào các vị trí lãnh đạo, quản lý, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp tổ chức, bộ máy nhà nước và vận hành chính quyền hai cấp.

Ngoài ra, cũng có những rào cản xuất phát từ chính phụ nữ, như mức độ quyết tâm, nỗ lực vươn lên, cùng với năng lực, trình độ và kỹ năng trong lãnh đạo, quản trị công còn hạn chế.

Tháo gỡ rào cản để phụ nữ tham gia sâu vào quá trình ra quyết định thực chất và hiệu quả

Theo PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa, quy trình phân công công việc và cơ chế vận hành hiện nay cũng ảnh hưởng đến khả năng tham gia sâu của phụ nữ. Trong thực tế, phụ nữ vẫn thường được bố trí ở các lĩnh vực hành chính, văn phòng hoặc các ngành nghề truyền thống như giáo dục, y tế, thay vì được phân bổ đồng đều trong các lĩnh vực quản lý và hoạch định chính sách.

Đặc biệt, quy trình “đánh giá tác động giới” một cách tổng thể, toàn diện, khoa học và thực chất sau mỗi nhiệm kỳ đại hội cấp ủy cũng như nhiệm kỳ dân cử và chính quyền các cấp vẫn còn thiếu.

Trong việc triển khai vận hành chính quyền hai cấp và sắp xếp các đơn vị hành chính, một số cơ chế chính sách được ban hành, do “vừa chạy, vừa xếp hàng”, còn chưa phản ánh thực sự tính “nhạy cảm giới”, “đặc thù giới”.

Chẳng hạn thiếu các biện pháp hỗ trợ đối với nữ cán bộ đang nuôi con nhỏ hoặc khi phải công tác xa gia đình sau sáp nhập hay có các chính sách đặc thù, đãi ngộ thích đáng đối với cán bộ nữ luân chuyển theo địa bàn xa gia đình (như Từ Tây Nguyên xuống Vùng ven biển sau khi 2 tỉnh sáp nhập),...

Bên cạnh đó, văn hóa chính trị vẫn ảnh hưởng sâu đậm bởi cơ chế thông tin, “kết nối ngoài giờ” và “hậu sảnh” thông qua giao lưu, gặp gỡ vào thời điểm mà phụ nữ phải chăm lo gia đình và nội trợ, điều này đôi khi tạo ra sự bất đối xứng thông tin, ảnh hưởng đến mức độ tham gia thực chất của phụ nữ.

Để khắc phục những hạn chế này, PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa cho rằng cần áp dụng mạnh mẽ hơn các cơ chế bảo đảm tỷ lệ nữ trong hệ thống chính trị.

“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cần quy định cứng về hạn ngạch (quota) để bảo đảm mức độ tham gia thực chất của phụ nữ. Tỷ lệ nữ cấp ủy và ứng cử viên các cơ quan dân cử nên được nâng lên khoảng 40-45%”, ông nhấn mạnh.

Đồng thời, cần thể chế hóa hạn ngạch (quota) trong quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thay vì “ít nhất phải có” từ 35%, phải là “cơ cấu cứng từ 35%-40% trở lên” hay “cơ cấu cứng phải đạt được tối thiểu 35%”,…

Bên cạnh đó, áp dụng, đưa tiêu chí đánh giá dựa trên kết quả (KPI) và “Chỉ số giới” (GI), hay “chỉ số bình đẳng giới” (GEI), có trọng số năng lực lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền qua từng nhiệm kỳ bằng việc thể chế hóa (quy định của Đảng) cũng như quy định pháp luật, dựa trên mức độ đạt được tỷ lệ nữ và sự tham gia thực chất của phụ nữ.

Cùng với đó là triển khai mạnh mẽ chuyển đổi số, lãnh đạo và quản trị, hành chính dựa trên số và dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (A.I.) để tăng cường sự trao quyền, thụ hưởng quyền, hiệu quả và sự tham gia thực chất của phụ nữ vào các cơ quan dân cử và chính quyền các cấp.

Theo PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa, việc phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lãnh đạo không chỉ bảo đảm quyền bình đẳng mà còn góp phần nâng cao chất lượng chính sách: “Khi phụ nữ tham gia sâu vào lãnh đạo, các chính sách thường được xây dựng theo cách tiếp cận nhạy cảm giới, lấy con người và quyền con người làm trung tâm, qua đó thúc đẩy sự tăng trưởng bao trùm, phát triển nhanh, xanh và bền vững”.

Trong bối cảnh mới, hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng cần được đổi mới để hỗ trợ phụ nữ phát triển năng lực lãnh đạo. Các chương trình đào tạo cần chú trọng cung cấp sự đột phá về tư duy, tầm nhìn, giá trị và khung năng lực của lãnh đạo nữ, tiếp cận dựa trên “nhạy cảm giới” và tiếp cận dựa trên quyền con người.

Đồng thời yêu cầu phát triển năng lực và kỹ năng lãnh đạo và quản trị chiến lược, đổi mới, sáng tạo, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thực tiễn và có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cần linh hoạt, đa dạng, dễ tiếp cận dựa trên các nền tảng số, trợ lý ảo (AI), tự đào tạo,..

Mở rộng không gian tham gia của phụ nữ trong các cơ quan quyền lực vì thế không chỉ là vấn đề bình đẳng giới, mà còn là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và thúc đẩy phát triển bền vững.

Từ khóa: cơ chế, quy hoạch cán bộ,Ông Hoàng Văn Nghĩa,cơ chế,nhạy cảm giới,PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa,Quốc hội

Thể loại: Nội chính

Tác giả: quỳnh trang/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập