Cải cách chính quyền địa phương 2 cấp: Dân hài lòng mới là đích cuối

Cập nhật: 3 giờ trước

VOV.VN - Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu đổi mới toàn diện phương thức quản trị, chuyển mạnh sang đánh giá hiệu quả thực chất dựa trên trải nghiệm người dân và doanh nghiệp; chuyên gia đề xuất hệ chỉ số đo lường dựa trên dữ liệu và hành vi thực tế.

Cải cách không chỉ là tinh gọn bộ máy

Tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp như một bước cải cách quản trị mang tính nền tảng, không chỉ dừng lại ở việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy.

Theo Tổng Bí thư, đây là “phương thức quản trị địa phương mới”, hướng tới loại bỏ tầng nấc trung gian, bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, phân bổ nguồn lực hợp lý và ứng dụng hiệu quả công nghệ, dữ liệu để phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Điểm cốt lõi của cải cách không nằm ở việc giảm đầu mối đơn thuần mà là thay đổi cách thức vận hành của chính quyền theo hướng hiện đại, minh bạch, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm.

Tổng Bí thư yêu cầu cải cách phải được triển khai một cách toàn diện, đồng bộ, trong đó nhấn mạnh các trụ cột gồm: phân quyền, phân cấp rõ ràng; thiết kế lại quy trình xử lý công việc; chuẩn hóa dữ liệu; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu; đồng thời chuyển mạnh sang nền hành chính phục vụ và kiến tạo phát triển.

Trong mô hình này, cấp tỉnh giữ vai trò chiến lược, điều phối và giám sát, trong khi cấp xã trở thành nơi trực tiếp giải quyết các vấn đề của người dân và doanh nghiệp. Nguyên tắc xuyên suốt là “giao quyền đến đâu, có nguồn lực đến đó”, bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện.

Tổng Bí thư cũng lưu ý, việc triển khai cần linh hoạt theo đặc thù từng địa phương, tránh áp dụng máy móc dẫn đến phát sinh bộ máy cồng kềnh hoặc kém hiệu quả.

Đặc biệt, Tổng Bí thư nhấn mạnh sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp được xác định là tiêu chí cuối cùng để đánh giá thành công của cải cách. Hiệu quả phải thể hiện rõ qua việc giảm phiền hà, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, nâng cao chất lượng phục vụ và thúc đẩy chuyển đổi số ngay từ cơ sở.

Phân tích về yêu cầu này, PGS.TS Trịnh Văn Tùng - giảng viên cao cấp Viện Lãnh đạo học và Hành chính công, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, hệ thống đánh giá cải cách hiện nay dù đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa phản ánh đầy đủ bản chất thực chất của cải cách.

Các chỉ số chủ yếu vẫn tập trung vào việc đo lường sắp xếp tổ chức bộ máy, chuẩn hóa quy trình hay mức độ triển khai chuyển đổi số. Đây về cơ bản là các chỉ số “đầu vào” hoặc “tiến độ”, chưa phản ánh trực tiếp hiệu quả phục vụ người dân.

“Hiệu quả cải cách cần được kiểm nghiệm thông qua trải nghiệm thực tế của người dân khi sử dụng dịch vụ công: họ có thuận tiện hơn không, có tốn ít thời gian, chi phí có giảm và họ có cảm thấy hài lòng hay không?”, ông Trịnh Văn Tùng nêu vấn đề.

Theo PGS.TS Trịnh Văn Tùng, một thực tế đáng chú ý là trong quá trình thúc đẩy dịch vụ công trực tuyến, vẫn tồn tại tình trạng cán bộ “làm thay” cho người dân để đạt chỉ tiêu chuyển đổi số. Điều này giúp cải thiện số liệu bề ngoài nhưng không phản ánh đúng năng lực sử dụng dịch vụ số của người dân cũng như chất lượng phục vụ thực chất.

Theo chuyên gia, việc tinh giản bộ máy chỉ là kết quả trung gian về mặt cấu trúc, không phải là thước đo cuối cùng của cải cách. Nếu bộ máy được tinh gọn nhưng năng lực giải quyết công việc tại cấp xã không được nâng cao, người dân vẫn phải đi lại nhiều lần, chờ đợi lâu hoặc phụ thuộc vào trung gian, thì cải cách chưa đạt mục tiêu.

Ngược lại, tinh giản tổ chức chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm với phân cấp rõ ràng, ứng dụng chuyển đổi số thực chất và nâng cao trách nhiệm phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Do đó, thước đo đúng phải là kết quả phục vụ xã hội, tức là mức độ cải thiện thực chất trong đời sống người dân và hoạt động của doanh nghiệp.

Cốt lõi đo lường sự hài lòng

Để đo lường sự hài lòng của người dân trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, PGS.TS Trịnh Văn Tùng đề xuất tập trung vào các nhóm chỉ số cốt lõi:

Thứ nhất là khả năng tiếp cận dịch vụ: người dân có dễ dàng tìm kiếm thông tin, nộp hồ sơ và giải quyết công việc ngay tại cấp xã hay không.

Thứ hai là thời gian xử lý thực tế và số lần đi lại, phản ánh trực tiếp mức độ giảm phiền hà hành chính.

Thứ ba là chi phí xã hội, bao gồm chi phí thời gian và chi phí phát sinh khi thực hiện thủ tục.

Thứ tư là trải nghiệm phục vụ của cán bộ, công chức và mức độ minh bạch trong quy trình giải quyết công việc.

Thứ năm là mức độ người dân có thể tự thực hiện dịch vụ công trực tuyến, thay vì phải nhờ hỗ trợ.

Ngoài ra, trong bối cảnh chuyển đổi số, cần bổ sung chỉ số về an toàn dữ liệu và mức độ tin cậy của người dân đối với hệ thống số - yếu tố nền tảng để thúc đẩy sử dụng dịch vụ công trực tuyến một cách bền vững. Một điểm quan trọng được nhấn mạnh là cần chuyển từ cách đo lường dựa trên cảm nhận chủ quan sang đo lường bằng dữ liệu hành vi thực tế.

Các chỉ số cần được thu thập từ quá trình xử lý hồ sơ như số lần đi lại, thời gian giải quyết, tỷ lệ hồ sơ xử lý tại chỗ. Đồng thời, cần có khảo sát độc lập tại điểm dịch vụ, thay vì để cơ quan cung cấp dịch vụ tự đánh giá. Bên cạnh đó, dữ liệu sử dụng dịch vụ công trực tuyến cũng cần được phân tích sâu, như tỷ lệ người dân tự thao tác thành công hay phải hỗ trợ. Đây là chỉ báo quan trọng về mức độ chuyển đổi số thực chất.

“Việc kết hợp nhiều nguồn dữ liệu, bao gồm cả đánh giá độc lập của bên thứ ba, sẽ giúp phản ánh khách quan hơn trải nghiệm của người dân, tránh tình trạng “tự đánh giá”, PGS.TS Trịnh Văn Tùng kiến nghị.

Vai trò then chốt của chuyển đổi số

Theo PGS.TS Trịnh Văn Tùng, chuyển đổi số được xác định không chỉ là công cụ cung cấp dịch vụ mà còn là công cụ đo lường hiệu quả cải cách. Thông qua hệ thống số, toàn bộ quá trình xử lý hồ sơ được lưu vết, tạo ra dữ liệu có thể kiểm chứng theo thời gian. Điều này giúp tăng tính minh bạch, hạn chế báo cáo hình thức và nâng cao năng lực giám sát.

Đặc biệt, dữ liệu thời gian thực cho phép theo dõi trực tiếp tình trạng giải quyết hồ sơ, phát hiện sớm điểm nghẽn và điều chỉnh kịp thời. “Việc đánh giá cải cách vì thế không còn phụ thuộc vào báo cáo định kỳ mà chuyển sang đánh giá theo dòng vận hành thực tế của hệ thống dịch vụ công”, ông Tùng đề xuất.

Về chi phí, để kiểm soát và giảm “chi phí không chính thức”, theo ông Tùng, cần kết hợp nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết là sử dụng dữ liệu số để phát hiện bất thường trong xử lý hồ sơ. Tiếp đó là tăng cường minh bạch quy trình, công khai tiến độ xử lý theo thời gian thực. Đồng thời, cần mở rộng giám sát xã hội, triển khai khảo sát độc lập và xây dựng cơ chế phản hồi hiệu quả từ người dân.

“Một yếu tố quan trọng khác là cải thiện chế độ tiền lương, bảo đảm cán bộ, công chức có thể sống bằng lương, qua đó giảm động cơ phát sinh chi phí không chính thức”, PGS.TS Tùng đề xuất.

Bên cạnh người dân, trong mô hình mới, doanh nghiệp không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia đánh giá chất lượng môi trường hành chính. Các chỉ số cần tập trung vào thời gian hoàn thành thủ tục, chi phí tuân thủ, mức độ minh bạch, khả năng dự báo chính sách và trải nghiệm số. Đồng thời, cần đo lường mức độ đồng hành của chính quyền địa phương với doanh nghiệp thông qua khả năng giải quyết vướng mắc và hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.

Để cơ chế phản hồi của người dân, doanh nghiệp hiệu quả, cần được thiết kế theo hướng dễ tiếp cận, đa kênh, có lưu vết số và có khả năng tác động ngược trở lại quá trình ra quyết định.

“Vì thế, việc phản hồi không chỉ dừng ở việc tiếp nhận mà phải được xử lý, phản hồi lại người dân và gắn với trách nhiệm giải trình của cán bộ. Khi đó, giám sát của người dân mới thực sự trở thành một phần của hệ thống quản trị hiện đại”, ông Tùng đề xuất.

Theo PGS.TS Trịnh Văn Tùng, tiêu chí cốt lõi nhất để đánh giá thành công của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là khả năng giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp ngay tại cấp xã một cách nhanh chóng, thuận tiện và minh bạch hơn trước. Nếu sau cải cách, người dân vẫn phải đi xa hơn, chờ lâu hơn hoặc phụ thuộc nhiều hơn vào trung gian, thì cải cách chưa đạt mục tiêu.

Ngược lại, khi cấp xã trở thành nơi giải quyết phần lớn thủ tục hành chính, giúp giảm chi phí xã hội, nâng cao khả năng tự sử dụng dịch vụ công và củng cố niềm tin của người dân, thì đó chính là dấu hiệu rõ ràng của một cuộc cải cách thành công về thực chất.

Từ khóa: chính quyền địa phương 2 cấp, chính quyền địa phương 2 cấp, Tổng Bí thư Tô Lâm, cải cách hành chính, chuyển đổi số, dịch vụ công, sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp, phân cấp phân quyền, quản trị địa phương, cải cách bộ máy, dữ liệu thời gian thực, đánh giá sự hài lòng, thước đo quản trị, bộ máy mới, mô hình mới, niềm tin của người dân, PGS TS Trịnh Văn Tùng, lấy sự hài lòng của người dân làm, thước đo cuối cùng, cải cách

Thể loại: Nội chính

Tác giả: cao thắng/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập