Sửa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo mở đường kinh tế biển xanh
Cập nhật: 1 giờ trước
Sửa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo mở đường kinh tế biển xanh
Hà Nội lấy ý kiến nhân dân đối với Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm
VOV.VN - Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng sẽ hoàn thiện khung pháp lý quản lý không gian biển theo hướng hiện đại, minh bạch, đồng thời mở đường cho các ngành kinh tế biển mới, đặc biệt là năng lượng tái tạo ngoài khơi, phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đangtham vấn chính sách phục vụ xây dựng dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển trong giai đoạn mới.
Liên quan đến nội dung này, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Quốc hội thông qua năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.
"Tuy nhiên, sau gần 10 năm triển khai, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước và sự thay đổi của hệ thống pháp luật, một số quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, chưa theo kịp thực tiễn. Trong khi đó, nhiều lĩnh vực kinh tế biển mới đang phát triển nhanh như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, kinh tế biển xanh; cùng với đó là các vấn đề môi trường mới nổi như rác thải nhựa đại dương, suy thoái hệ sinh thái ven biển và tác động của biến đổi khí hậu. Những yếu tố này đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và đổi mới phương thức quản lý theo hướng hiện đại, dựa trên khoa học – công nghệ và dữ liệu", Thứ trưởng Điệp nhấn mạnh.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình xây dựng luật, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho rằng, việc xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đòi hỏi trí tuệ tập thể và sự đồng thuận cao.
Theo Thứ trưởng, thế giới đang chứng kiến những chuyển biến mạnh mẽ liên quan đến không gian đại dương. Các ngành kinh tế biển truyền thống như vận tải biển, thủy sản, du lịch, dầu khí tiếp tục phát triển, đồng thời xuất hiện nhiều lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao và công nghệ sinh học biển.
Tuy nhiên, cùng với cơ hội là nhiều thách thức lớn như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường biển, suy giảm đa dạng sinh học và rác thải nhựa đại dương.
Đối với Việt Nam, biển và hải đảo có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, gắn với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, quốc phòng – an ninh và hội nhập quốc tế. Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng trên 1 triệu km² với hệ sinh thái phong phú và tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, không gian biển cũng đang chịu sức ép ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên.
Trên cơ sở tổng kết thi hành Luật, rà soát pháp luật hiện hành và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng hồ sơ chính sách của dự án Luật với 5 nhóm chính sách lớn, gồm: Tăng cường quản lý, sử dụng không gian biển theo hướng thống nhất, minh bạch; Hoàn thiện chính sách bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ và các hệ sinh thái nhạy cảm;
Tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, đặc biệt là rác thải nhựa; Thúc đẩy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý biển; Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng xanh, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Thị Mai Phương cho rằng, cần tập trung hoàn thiện hồ sơ pháp lý, đặc biệt là việc phân định rõ thẩm quyền giữa Luật và các Nghị định nhằm bảo đảm tính ổn định lâu dài của hệ thống pháp luật.
Bà đề nghị cơ quan soạn thảo cần rà soát kỹ lưỡng để tránh chồng chéo với các luật liên quan như Luật Đất đai, Luật Quy hoạch và Luật Bảo vệ môi trường. Đồng thời, cần làm rõ lý do thay thế luật hiện hành dựa trên quy mô sửa đổi, bổ sung các chính sách liên quan đến quản lý không gian biển.
Ngoài ra, bà cũng nhấn mạnh yêu cầu cung cấp số liệu minh chứng cụ thể và xây dựng quy định chuyển tiếp phù hợp nhằm bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp. Theo bà, mục tiêu là xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi trong quản lý biển đảo.
TS. Phạm Ngọc Sơn bày tỏ sự đồng thuận cao với 5 nhóm chính sách cốt lõi mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra,đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của quy hoạch không gian biển và thiết lập cơ chế đặc thù để thúc đẩy đầu tư.
Ông đề xuất bổ sung chính sách thứ 6 về điều tra cơ bản tài nguyên biển theo hướng tích hợp, nhằm tránh lãng phí nguồn lực và hạn chế chồng chéo giữa các ngành. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh số hóa dữ liệu và ứng dụng công nghệ hiện đại để kiểm soát ô nhiễm môi trường biển hiệu quả hơn.
Theo TS. Phạm Ngọc Sơn, việc lồng ghép các cơ chế phát triển kinh tế vào luật là bước đi sáng tạo, tạo đòn bẩy pháp lý quan trọng cho sự tăng trưởng bền vững của quốc gia.
Góp ý về nội dung trên, GS. Mai Trọng Nhuận nhấn mạnh sự cần thiết phải thiết lập các cơ chế chính sách đặc thù và khung pháp lý thử nghiệm để tháo gỡ những điểm nghẽn trong quản lý không gian biển.
Ông đề xuất các giải pháp trọng tâm như đổi mới mô hình quản trị biển tích hợp, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn xanh, hiện đại hóa hệ thống dữ liệu số đại dương và đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực kinh tế biển. Bên cạnh đó, việc khai thác tiềm năng của tín chỉ carbon xanh cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và tạo nguồn lực mới cho phát triển bền vững.
Theo GS. Mai Trọng Nhuận, mục tiêu cuối cùng là tạo bước đột phá để chuyển hóa nguồn lực tài nguyên biển thành động lực tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cho quốc gia.
Các chuyên gia và đại biểu tham dự hội nghị cơ bản thống nhất với sự cần thiết phải sửa đổi Luật và 5 nhóm chính sách lớn do Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất. Nhiều ý kiến cho rằng các chính sách đã thể chế hóa tương đối đầy đủ các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước trong quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Dự án Luật cũng có mối quan hệ với nhiều luật khác, vì vậy cần làm rõ phạm vi sửa đổi, đồng thời rà soát, đề xuất điều chỉnh các quy định liên quan nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Việc đánh giá tác động chính sách, trong đó có đề xuất cấp giấy chứng nhận khu vực biển, cũng cần được nghiên cứu kỹ lưỡng.
Từ khóa: kinh tế biển xanh, Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo, sửa đổi luật biển, kinh tế biển xanh, năng lượng tái tạo ngoài khơi, quản lý không gian biển, bảo vệ môi trường biển, phát triển kinh tế biển, tài nguyên biển Việt Nam, rác thải nhựa đại dương, chính sách biển đảo
Thể loại: Xã hội
Tác giả: văn ngân/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN