Số hóa vùng trồng, nâng sức cạnh tranh trái cây ĐBSCL
Cập nhật: 37 phút trước
Số hóa vùng trồng, nâng sức cạnh tranh trái cây ĐBSCL
Việt Nam cần làm gì để trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2030?
VOV.VN - Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại ngành hàng trái cây theo hướng chuẩn hóa, số hóa và nâng cao giá trị.
Việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, quản lý chặt mã số vùng trồng, chuẩn hóa cơ sở đóng gói và phát triển chế biến sâu được xem là những khâu then chốt để nâng sức cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Theo báo cáo từhiệp hội rau quả Việt Nam, Trung Quốc là một trong những thị trường tiêu thụ rau quả lớn, chiếm khoảng 65-70% tổng kim ngạch xuất khẩu. Thị trường này đang ngày càng nâng cao yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch thực vật, dư lượng hóa chất, truy xuất nguồn gốc và sản xuất xanh. Vì vậy, ĐBSCL vùng sản xuất và cung ứng rau quả chủ lực của cả nước đang xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, số hóa vùng trồng và nâng cao năng lực chế biến để gia tăng giá trị, sức cạnh tranh của nông sản.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, người tiêu dùng Trung Quốc, nhất là tại các đô thị lớn, ngày càng quan tâm đến sản phẩm an toàn, có nguồn gốc rõ ràng, sản xuất theo hướng hữu cơ, sinh thái và giảm phát thải. Đây cũng là xu hướng thúc đẩy các nhà nhập khẩu ưu tiên những nhà cung ứng có quy trình sản xuất xanh, giảm phát thải carbon và sử dụng bao bì thân thiện với môi trường.
Để giữ vững và gia tăng thị phần tại thị trường Trung Quốc phải đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về pháp lý, kiểm dịch và an toàn thực phẩm. Ông Đặng Phúc Nguyên đề xuất vùng ĐBSCL xây dựng “bản đồ sản xuất xanh” gắn với quy hoạch vùng trồng theo tín hiệu thị trường. Cùng với đó, cần chuyển mạnh sang các mô hình canh tác hữu cơ, tuần hoàn, áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm, quản lý dịch hại tổng hợp, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ, qua đó giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Theo ông Nguyên, khâu thu hoạch, sơ chế và đóng gói tại nguồn cũng cần được chuẩn hóa; các cơ sở đóng gói phải đáp ứng yêu cầu về xử lý sau thu hoạch, kiểm soát nhiệt độ, vật liệu bao gói, khử trùng, chiếu xạ và vệ sinh theo quy định của thị trường nhập khẩu.
Ông Đặng Phúc Nguyên cho rằng, các yêu cầu ngày càng cao của thị trường Trung Quốc về chất lượng, an toàn và sản xuất xanh vừa đặt ra thách thức, vừa tạo động lực để nông sản ĐBSCL tái cấu trúc, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh. Việc kết hợp sản xuất xanh, chế biến sâu và chuỗi cung ứng thông minh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả xuất khẩu, thúc đẩy hợp tác thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc theo hướng bền vững.
"Cần Thơ và các địa phương cần đẩy mạnh xây dựng các mô hình chuỗi cung ứng nông sản đạt chuẩn Net Zero, tạo lập lợi thế cạnh tranh riêng biệt cho hàng hóa đồng bằng sông Cửu Long đi tiến sâu vào thị trường Trung Quốc. Chuẩn hóa quy trình thu hoạch và bao gói tại nguồn, chuẩn hóa các cơ sở đóng gói đáp ứng tiêu chuẩn xử lý sau thu hoạch. Kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ kho lạnh, vật liệu đóng gói và quy trình hun trùng, chiếu xạ, rửa sạch theo quy chuẩn phía bạn yêu cầu", ông Nguyên chia sẻ.
Từ thực tiễn xuất khẩu cho thấy thị trường Trung Quốc đang thay đổi mạnh, yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn kỹ thuật, tính pháp lý và truy xuất nguồn gốc. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của trái cây Việt Nam tại thị trường Trung Quốc, các doanh nghiệp cần tập trung vào số hóa vùng trồng, chuẩn hóa cơ sở đóng gói và tăng cường liên kết chuỗi giá trị.
Ông Nguyễn Đình Mười, Phó Tổng Giám đốc của Vina T&T Group cho rằng, vùng nguyên liệu đạt chuẩn là yếu tố quan trọng đối với xuất khẩu nông sản. Do đó, cần đẩy mạnh số hóa vùng trồng, ứng dụng bản đồ số, mã truy xuất và nhật ký sản xuất điện tử cho từng trang trại, qua đó minh bạch thông tin từ sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến thời điểm thu hoạch. Quy trình sản xuất cần tuân thủ nghiêm các nghị định thư đã ký kết với cơ quan chức năng Trung Quốc, bảo đảm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật từ khâu chăm sóc, thu hoạch đến đóng gói và xuất khẩu.
Theo đánh giá, cơ sở đóng gói giữ vai trò quan trọng trước khi trái cây xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Vì vậy, cần xây dựng mối liên kết chặt chẽ, minh bạch giữa doanh nghiệp xuất khẩu, cơ sở đóng gói, hợp tác xã và nông dân nhằm chủ động nguồn nguyên liệu đạt chuẩn, ổn định về sản lượng và chất lượng.
Doanh nghiệp kiến nghị đẩy nhanh tiến trình mở cửa thị trường, mở rộng danh sách các mặt hàng trái cây được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc. Theo ông Nguyễn Đình Mười, thực tế xuất khẩu cho thấy có những sản phẩm được phép xuất khẩu vào thị trường này nhưng chưa được chấp thuận tại thị trường khác, do đó cần tiếp tục hài hòa các yêu cầu kỹ thuật và mở rộng thị trường cho nông sản Việt Nam.
Ông Nguyễn Đình Mười cho rằng, số hóa vùng trồng và chuẩn hóa cơ sở đóng gói là nền tảng để nâng cao chất lượng, minh bạch nguồn gốc và sức cạnh tranh của trái cây Việt Nam tại Trung Quốc cũng như các thị trường quốc tế.
"Số hóa vùng trồng, quản lý mã số vùng trồng theo quy định mới. Vùng nguyên liệu chuẩn là nền sống còn của nông sản xuất khẩu, số hóa toàn diện, triển khai áp dụng công nghệ số, sử dụng bản đồ hoặc là mã QR, nhật ký sản xuất điện tử cho từng trang trại. Việc này giúp minh bạch thông tin canh tác từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến mốc thời gian thu hoạch, tuân thủ quy chuẩn quản lý, quy trình sản xuất tuân thủ nghiêm ngặt theo các Nghị định thư đã ký kết với Tổng cục Hải quan Trung Quốc, ông Mười nói.
Vùng ĐBSCL hiện thu hút tỷ trọng vốn FDI còn thấp so với cả nước. Đây vừa là thách thức, vừa cho thấy dư địa lớn để khu vực mở rộng thu hút đầu tư trong thời gian tới.
Bà Katie Nguyễn, đại diện Tập đoàn Sunwah tại Việt Nam cho rằng, Cần Thơ hiện được các doanh nghiệp nước ngoài biết đến chủ yếu qua các lĩnh vực du lịch, nông nghiệp và thủy sản. Trong khi đó, thông tin về những lĩnh vực tiềm năng khác còn hạn chế; hạ tầng giao thông và kết nối vùng cũng là những yếu tố được doanh nghiệp quan tâm khi xem xét đầu tư.
Bà Katie Nguyễn kỳ vọng việc phát triển hạ tầng, trong đó có nâng cấp sân bay và các dự án cảng biển, sẽ góp phần cải thiện khả năng kết nối của Cần Thơ với các khu vực trong nước và quốc tế, qua đó tăng cơ hội thu hút doanh nghiệp nước ngoài. Các lĩnh vực được doanh nghiệp đánh giá có tiềm năng hợp tác giữa Cần Thơ, ĐBSCL với doanh nghiệp Trung Quốc gồm logistics, nông nghiệp, thủy sản, năng lượng tái tạo, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực.
Bà Katie Nguyễn cho biết, mong muốn tăng cường đưa doanh nghiệp Trung Quốc đến tìm hiểu cơ hội đầu tư tại Cần Thơ; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Cần Thơ tiếp cận thị trường Trung Quốc và tạo điều kiện để nguồn nhân lực của địa phương tham gia các chương trình đào tạo tại Trung Quốc.
"Những lĩnh vực mà tôi nghĩ là hai bên là Việt Nam và Trung Quốc có thể hợp tác được, thì ngoài lĩnh vực logistics, nông nghiệp, thủy sản và còn có lĩnh vực năng lượng tái tạo và tôi cũng hy vọng là một mảng nữa mà tôi cũng hy vọng là có thể làm được với Cần Thơ đó là về đào tạo nguồn nhân lực, thì tôi nghĩ là đào tạo về con người, bồi dưỡng về con người, đầu tư về con người thì luôn luôn là cái mà đầu tư giá trị nhất cho tương lai",Bà Katie Nguyễn cho biết.
Những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường Trung Quốc đang đặt ra yêu cầu tái cấu trúc chuỗi sản xuất và xuất khẩu trái cây tại ĐBSCL. Việc số hóa vùng trồng, minh bạch dữ liệu, chuẩn hóa cơ sở đóng gói, kiểm soát chặt chất lượng và đẩy mạnh chế biến sâu sẽ là những khâu quan trọng để nâng cao giá trị nông sản.
Từ khóa: số , Đồng bằng sông Cửu Long, số hoá vùng trồng, trái cây, nâng cao sức cạnh tranh,giá trị sản xuất
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: phạm hải/vov-đbscl
Nguồn tin: VOVVN