Sản phẩm vùng dân tộc thiểu số và miền núi hướng đến mục tiêu 100 tỷ USD

Cập nhật: 5 giờ trước

VOV.VN - Nếu có cơ chế, chính sách hỗ trợ và cách tiếp cận đúng, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ không còn khó khăn, vì đây là một trong những vùng có dư địa, tiềm năng để hướng tới mục tiêu 100 tỷ USD.

Mỗi sản phẩm của vùng dân tộc thiểu số và miền núi đều mang trong mình những giá trị riêng, được tạo nên từ điều kiện tự nhiên, nguồn nguyên liệu bản địa và tri thức sản xuất của cộng đồng. Nền tảng quan trọng này mang đến sự khác biệt, nhất là khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc, bản sắc và tính bền vững.

Sản phẩm vùng dân tộc thiểu số và miền núi chỉ ngon chưa đủ

Thế nhưng việc tiêu thụ những sản phẩm độc đáo này vẫn không hề đơn giản. Đối với nhiều DN, HTX và chủ thể sản xuất tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hành trình này càng nhiều thách thức khi quy mô sản xuất còn nhỏ, nguồn lực về vốn, công nghệ, nhân lực và khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế...

Có sẵn quy trình sản xuấttruyền thống gắn với nguồn nguyên liệu và tri thức sản xuất của đồng bào Tày, Nùng, những năm gần đây sản phẩm miến dong của HTX Miến dong Tài Hoan, tỉnh Thái Nguyên đã từng bước được nâng cao chất lượng, hoàn thiện sản phẩm và hiện đã có mặt tại thị trường nước ngoài. Song bà Trần Minh Anh, đại diện HTX Miến dong Tài Hoan chia sẻ, để có được 1 lô hàng xuất khẩu, HTX phải mất hơn 1 năm để gửi mẫu kiểm nghiệm, kiểm tra dư lượng, hoàn thiện bao bì, nhãn mác và các thủ tục xuất nhập khẩu...

“Đây chính là khó khăn lớn nhất đối với DN khi 1 sản phẩm truyền thống phải đáp ứng đồng thời những yêu cầu rất cao về chất lượng, an toàn, truy xuất nguồn gốc, bao bì và thủ tục của thị trường quốc tế. Từ thực tế đó HTX nhận ra rằng, yếu tố quyết định thành công không chỉ là sản phẩm ngon, quan trọng là khả năng đưa sản phẩm truyền thống có quy trình sản xuất, có thể kiểm soát và chứng minh được nguồn gốc”, bà Minh Anh cho biết.

Câu chuyện của HTX Miến dong Tài Hoan không phải là cá biệt, khi nhiều DN vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi dù có lợi thế về sản phẩm, nhưng năng lực xuất khẩu vẫn chưa thực sự sẵn sàng, đặc biệt ở các khâu tổ chức sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và phát triển hệ thống phân phối trên thị trường quốc tế.

Như nhận xét của ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV Việt Nam, những lợi thế về điều kiện tự nhiên, cây con giống, phương thức sản xuất và giá trị văn hóa chỉ thực sự được chuyển hóa thành giá trị thương mại, khi đi cùng với quy trình sản xuất phù hợp, ứng dụng công nghệ, kiểm nghiệm chất lượng, hoàn thiện bao bì, truy xuất nguồn gốc và xây dựng hệ thống phân phối hiệu quả.

“Rào cản lớn nhất nằm ở quy mô nhỏ và năng lực còn hạn chế của các DN nhỏ, siêu nhỏ và HTX, khi phải tự đảm nhiệm nhiều khâu trong chuỗi giá trị nhưng lại thiếu nguồn lực về vốn, nhân lực, công nghệ và thông tin thị trường”, ông Nam nêu thực tế và khuyến nghị, để sản phẩm có thể vươn ra và đứng vững trên thị trường quốc tế, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách hỗ trợ, DN và các chủ thể trong chuỗi giá trị; đồng thời nâng cao năng lực nắm bắt yêu cầu của thị trường quốc tế.

Mẫu mã bao bì phù hợp từng thị trường

Những chuyên gia tham gia chương trình hỗ trợ cho chủ thể OCOP cũng đã nhận thấy, các sản phẩm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi về truyền thống, về đặc sản rất tốt, nhưng khi xuất khẩu việc tối thiểu vẫn phải đáp ứng được những yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, về an toàn vệ sinh thực phẩm. Do vậy, vấn đề khó nhất hiện nay phải là chuẩn hóa chất lượng sản phẩm, để đáp ứng tiêu chuẩn của những thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ hay Nhật Bản.

Đơn cử về mẫu mã, bao bì sản phẩm hiện vẫn còn rất đơn giản, quy cách đóng gói chưa phù hợp với thị trường, ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) góp ý, các chủ thể OCOP hay các DN, HTX cần phải điều chỉnh lại quy cách, mẫu mã, bao bì cho phù hợp với từng thị trường cụ thể.

“DN xuất khẩu vẫn duy trì ý nghĩ nhiều là tốt, nhưng trên thực tế quy mô và cách tiêu dùng của các thị trường phát triển khác rất nhiều, họ thiếu thiện cảm với mẫu sản phẩm có kích thước lớn. Sản phẩm đưa đến thị trường nào trên bao bì phải sử dụng ngôn ngữ của thị trường đó, thậm chí cả tiếng Anh hay một số thứ tiếng khác là những tiêu chuẩn tối thiểu cần phải có, để khách hàng biết đến sản phẩm của Việt Nam”, ông Tiến lưu ý.

Ông Tiến cũng cho biết, thời gian tới trung tâm tập trung đồng thời 3 kênh xúc tiến, duy trì hiện diện sản phẩm Việt Nam tại các hội chợ, triển lãm và diễn đàn quốc tế; đẩy mạnh thương mại điện tử xuyên biên giới, nền tảng số; phát triển “xuất khẩu tại chỗ” gắn với điểm du lịch, trải nghiệm và khách quốc tế. Đồng thời ưu tiên hỗ trợ các chủ thể OCOP, đặc biệt sản phẩm 4 sao, 5 sao và nhóm quà tặng, đồng thời khuyến khích DN tham gia hội chợ quốc tế để trực tiếp nắm bắt xu hướng tiêu dùng, nhu cầu thị trường và đối thủ cạnh tranh.

“Nếu có cơ chế, chính sách hỗ trợ và cách tiếp cận đúng, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa sẽ không còn khó khăn, khi đây là một trong những vùng có dư địa, tiềm năng để hướng tới mục tiêu 100 tỷ USD”, ông Tiến lạc quan.

Khi lợi thế về nguồn nguyên liệu, điều kiện tự nhiên và tri thức bản địa được kết nối với năng lực sản xuất, tiêu chuẩn thị trường và chiến lược thương hiệu, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ có thêm cơ hội xây dựng chỗ đứng, bằng chính giá trị và thương hiệu của mình, góp phần tạo thêm việc làm, thu nhập và sinh kế bền vững.

Từ khóa: dân tộc thiểu số và miền núi, dân tộc thiểu số và miền núi,dư địa, lợi ích thương mại, tiêu thụ sản phẩm

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: nguyễn quỳnh/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập