Sách giáo khoa Tiếng Việt bậc tiểu học có nhiều nội dung quá sức học sinh?
Cập nhật: 3 giờ trước
Khoảnh khắc đàn cò trắng bay lượn rợp đồng ruộng ở Huế
Vành đai 2,5 tăng tốc trên từng công trường, hướng tới thông xe kỹ thuật vào 10/10
VOV.VN - Một số ngữ liệu, cách diễn đạt và câu hỏi trong SGK Tiếng Việt bậc tiểu học đang gây khó cho học sinh, trong khi nhiều tác phẩm quen thuộc lại bị thay đổi vị trí hoặc không còn. Vì thế, cần rà soát làm rõ nên chỉnh sửa, bổ sung và kế thừa những gì từ SGK cũ.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng kế hoạch rà soát, hoàn thiện Chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa, trong đó xác định những hạn chế, bất cập để kịp thời điều chỉnh theo hướng giảm tải, phù hợp với thực tiễn dạy học và đặc điểm của học sinh. Với SGK Tiếng Việt bậc tiểu học, yêu cầu này đặt ra vấn đề về việc lựa chọn ngữ liệu, cách đặt câu hỏi và mức độ yêu cầu đối với học sinh ở từng độ tuổi.
Thực tế sau khi đưa bộ sách Kết nối tri thức và cuộc sống vào giảng dạy, một trong những bất cập được giáo viên chỉ ra là có những ngữ liệu gây tranh cãi trong thời gian dài vì cách dùng từ, hình ảnh và mức độ liên tưởng vượt khá xa vốn sống của học sinh. Bài thơ “Tiếng hạt nảy mầm” ở lớp 5 là một ví dụ.
Bài thơ của Tô Hà viết về lớp học dành cho trẻ khiếm thính, qua đó thể hiện sự quan tâm của cô giáo và cách các em cảm nhận âm thanh, thế giới xung quanh. Tuy nhiên, một số cách diễn đạt trong bài không dễ tiếp cận với học sinh tiểu học. Ngay ở những câu thơ “Cánh sẻ vụt qua song/Hót nắng vàng ánh ỏi/Các bé vẫn lặng chăm/Nhìn theo cô mấp máy”, từ “ánh ỏi” đã gây nhiều tranh luận về cách hiểu và mức độ phù hợp với học sinh.
Theo cô Phạm Ngân, giáo viên tiểu học tại phường Thanh Xuân, Hà Nội, khó khăn của bài thơ không chỉ nằm ở một từ riêng lẻ mà còn ở cách sử dụng ngôn ngữ, các lớp nghĩa và bối cảnh mà học sinh phải hình dung. “Có những chỗ giáo viên phải giải thích, thậm chí phải ‘dịch’ lại ngôn ngữ của tác giả thì học sinh mới hiểu được”.
Theo cô Ngân, một bài thơ có thể có độ khó nhất định để học sinh suy nghĩ, tưởng tượng và mở rộng khả năng cảm thụ. Tuy nhiên, độ khó đó cần phù hợp với lứa tuổi. Nếu giáo viên phải dành quá nhiều thời gian để giải nghĩa từng cách diễn đạt thì việc tiếp nhận tác phẩm có thể bị chuyển thành quá trình “gỡ khó” cho văn bản, thay vì giúp học sinh tập trung vào nội dung và giá trị của bài thơ.
Vì thế cần xem xét liệu những cách diễn đạt, hình ảnh và yêu cầu tiếp nhận trong bài có phù hợp với khả năng của học sinh lớp 5 hay không; nếu văn bản có giá trị, có thể điều chỉnh cách khai thác, bổ sung điểm tựa để học sinh tiếp cận tốt hơn hay cần sửa những chi tiết chưa phù hợp.
Một ví dụ khác là bài “Tia nắng đi đâu?” trong SGK Tiếng Việt lớp 1. Với câu hỏi “Theo em, nhà nắng ở đâu?”, học sinh phải đi từ những gì quan sát được đến tưởng tượng và đưa ra cách lý giải. Theo cô Bích Ngọc, giáo viên Trường Tiểu học, THCS, THPT FPT Bắc Giang, câu hỏi mở không phải là vấn đề. Điều quan trọng là học sinh lớp 1 có đủ vốn từ, vốn sống và khả năng quan sát, suy luận để trả lời hay chưa. “Nếu khoảng cách giữa câu hỏi và khả năng của học sinh quá xa thì giáo viên phải tạo những câu hỏi trung gian như một “cây cầu” để các em đi từng bước từ điều mình biết đến điều cần tưởng tượng”.
Cùng với đó, “Đồng cỏ nở hoa” ở SGK Tiếng Việt lớp 4 có những chi tiết khá lạ với trẻ như hình ảnh “gà bú tí”; “Tiếng hát của người đá” ở lớp 5 chứa nhiều lớp nghĩa về con người, thiên nhiên, văn hóa và chiến tranh, cũng đòi hỏi giáo viên phải tăng cường dẫn dắt.
Từ thực tế đó cho thấy khi rà soát ngữ liệu, vấn đề không phải cứ văn bản khó là phải bỏ. Điều cần xem xét là cái khó đó có thực sự phục vụ việc mở rộng vốn từ, khả năng suy nghĩ và cảm thụ của học sinh hay đang tạo thêm một tầng khó không cần thiết.
Những ngày qua, trên mạng xã hội, nhiều người bày tỏ tiếc nuối khi nhớ lại những bài văn, bài thơ hay từng gắn bó với nhiều thế hệ học sinh nhưng nay không còn giữ vị trí như trước trong SGK.
Theo chị Nguyễn Hoài Anh, phụ huynh có con học lớp 5 tại Hà Nội, những tác phẩm quen thuộc cần được nhìn nhận công bằng trong quá trình rà soát SGK. “Có những bài thơ, câu văn hàng chục năm nay chúng tôi vẫn còn nhớ, còn thuộc, bởi chúng thực sự gần gũi và có sức lay động với trẻ con”, chị Hoài Anh nói.
Bài thơ “Mẹ ốm” của Trần Đăng Khoa là một ví dụ, tác phẩm gần gũi với tâm lý học sinh, đồng thời có giá trị về ngôn ngữ và giáo dục tình mẫu tử. Trong SGK trước đây, “Mẹ ốm” là văn bản đọc chính. Tuy nhiên, ở Tiếng Việt 4, tác phẩm lại bị chuyển sang phần Đọc mở rộng, không còn giữ vị trí của một bài đọc chính như trước.
Một số bài thơ quen thuộc khác như “Cô giáo lớp em” (Nguyễn Xuân Sanh), “Mẹ” (Trần Quốc Minh), “Nói với em” (Vũ Quần Phương), “Mẹ vắng nhà ngày bão” (Đặng Hiển), “Em yêu nhà em” (Đoàn Thị Lam Luyến), “Quạt cho bà ngủ” (Thạch Quỳ)… cũng tương tự.
Theo chị Hoài Anh, đổi mới SGK là cần thiết nhưng không đồng nghĩa với việc thay thế những tác phẩm đã được nhiều thế hệ học sinh tiếp nhận. Những tác phẩm được viết từ lâu nhưng vẫn phù hợp tâm lý lứa tuổi, có ngôn ngữ trong sáng, hình ảnh gần gũi và giá trị tình cảm, thẩm mỹ thì không nên chỉ vì “cũ” mà thay thế.
PGS.TS Bùi Thanh Truyền, Trưởng khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, cho rằng việc lựa chọn văn bản văn học cho học sinh không nên chỉ dựa vào khả năng phục vụ một chủ đề hay yêu cầu cần đạt. Theo ông, ngữ liệu cần có giá trị thẩm mỹ, nhân văn, ngôn ngữ và khả năng tạo ra trải nghiệm đọc. Nếu quá chú trọng tính thời sự, tính sư phạm hoặc việc “gài” mục tiêu giáo dục vào văn bản, giá trị nghệ thuật của tác phẩm có thể bị xem nhẹ.
Từ góc nhìn này, PGS.TS Bùi Thanh Truyền dẫn những bài thơ như “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy, “Cả nhà đi học” của Cao Xuân Sơn và “Quê hương” của Đỗ Trung Quân, đều là những tác phẩm ông đánh giá có giá trị thẩm mỹ và nhân văn. Riêng “Tre Việt Nam” vẫn xuất hiện trong SGK Tiếng Việt 3, tập 2, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, nhưng cũng chỉ được đưa vào phần Đọc mở rộng thay vì giữ vị trí văn bản đọc chính.
Theo PGS.TS Bùi Thanh Truyền, “Tre Việt Nam” có ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu và qua hình tượng cây tre đã gợi lên nhiều phẩm chất đẹp của con người Việt Nam như sự kiên cường, đoàn kết, thủy chung và gắn bó với quê hương. Những giá trị này vừa giúp học sinh cảm nhận vẻ đẹp của thơ ca, vừa tạo cơ hội để các em hình thành tình yêu quê hương, đất nước. Đây cũng là những giá trị cần được cân nhắc khi rà soát, lựa chọn và kế thừa các ngữ liệu trong SGK.
Theo một số chuyên gia, SGK khi chỉnh sửa không chỉ cần trả lời bài nào nên bỏ, bài nào nên thêm, mà trước hết phải xác định những giá trị cốt lõi cần giữ lại: giá trị văn học, ngôn ngữ, nhân văn và khả năng tạo cho học sinh một trải nghiệm đọc phù hợp với lứa tuổi.
PGS.TS Bùi Thanh Truyền cho rằng giá trị cốt lõi của SGK Tiếng Việt không nằm ở việc giữ thật nhiều tác phẩm cũ hay đưa thật nhiều ngữ liệu mới, mà ở những văn bản có giá trị và phù hợp với người học.
Với những văn bản có giá trị nhưng khó tiếp cận, cô Bích Ngọc, cho rằng không nhất thiết phải loại bỏ ngay. Có thể bổ sung tranh ảnh, chú giải, kiến thức nền hoặc các câu hỏi trung gian để tạo điểm tựa cho học sinh. Ngược lại, nếu độ khó chủ yếu đến từ cách diễn đạt hoặc câu hỏi vượt quá vốn sống, khả năng suy luận của học sinh thì cần xem xét điều chỉnh.
Với những nội dung về lịch sử, văn hóa, truyền thống, cô Bích Ngọc, giáo viên Trường Tiểu học, THCS, THPT FPT Bắc Giang cho rằng cũng cần xác định rõ kiến thức cốt lõi, tránh để học sinh phải ghi nhớ quá nhiều dữ liệu. Câu chuyện, hình ảnh, nhân vật và cách thể hiện phù hợp với từng độ tuổi có thể giúp các em hiểu ý nghĩa của nội dung thay vì chỉ ghi nhớ thông tin.
Việc rà soát cũng cần được thực hiện trên cơ sở lắng nghe những người trực tiếp sử dụng SGK. TS Lê Viết Khuyến, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT) cho rằng cần nhìn từ cả quy trình xây dựng chương trình, biên soạn, thẩm định đến triển khai, thay vì chỉ sửa từng nội dung khi phát sinh vấn đề.
“Quy trình từ xây dựng chương trình đến làm sách giáo khoa phải được công khai, minh bạch, có sự phân công và phân cấp rõ ràng. Khi có vấn đề phải xác định được trách nhiệm thuộc về khâu nào, cấp nào”, TS Lê Viết Khuyến đề xuất.
Theo ông, trong quá trình này cần coi trọng giáo viên trực tiếp đứng lớp, bởi đây là lực lượng có thể phản ánh rõ nhất những nội dung phù hợp hay chưa phù hợp với học sinh.
Như vậy, khi rà soát SGK điều quan trọng là phân biệt được cái khó có ích với cái khó không cần thiết: những thử thách giúp học sinh suy nghĩ, tưởng tượng, khám phá vẫn cần được giữ nhưng phải nằm trong khả năng tiếp cận của lứa tuổi; còn những khó khăn chủ yếu đến từ cách diễn đạt, câu hỏi hoặc yêu cầu chưa phù hợp thì cần được điều chỉnh.
Đổi mới vì thế không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc thay thế. Với SGK Tiếng Việt, điều quan trọng hơn là chọn đúng, giữ đúng và sửa đúng chỗ, để nội dung phù hợp hơn với khả năng tiếp nhận của học sinh, đồng thời vẫn bảo đảm mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học và bồi dưỡng tình cảm, giá trị cho các em.
Từ khóa: sách giáo khoa tiếng việt, VOV, sgk tiếng việt, tiếng việt tiểu học, sách giáo khoa, ngữ liệu tiếng việt, nội dung sgk, rà soát sgk, học sinh tiểu học
Thể loại: Xã hội
Tác giả: thu hằng - nguyễn hà/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN