Quản lý bằng tư duy hành chính, bao cấp khó tạo ra sức bật cho văn hóa phát triển
Cập nhật: 7 giờ trước
Quảng Ngãi lập tổ công tác xây dựng quy định bồi thường, tái định cư
Thời tiết ngày 16/4: Miền Trung nắng nóng gay gắt, Hà Nội tăng nhiệt lên 33 độ C
VOV.VN - Hôm nay (15/4), tại Trường ĐH Văn hóa Hà Nội diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Phát biểu đề dẫn tại hội thảo, PGS.TS Đinh Công Tuấn, Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Văn hóa Hà Nội cho rằng, Hội thảo khoa học quốc gia: “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị” được tổ chức trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia, sức mạnh nội sinh và khát vọng phát triển nhanh, bền vững. Trong bối cảnh ấy, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam có ý nghĩa như một dấu mốc quan trọng, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa và con người trong chiến lược phát triển đất nước.
Nếu như ở các giai đoạn trước, văn hóa được khẳng định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển, thì trong tinh thần mới của Nghị quyết số 80-NQ/TW, văn hóa và con người được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia; văn hóa được nhìn nhận không chỉ như một lĩnh vực giá trị, một không gian tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực sáng tạo, sức mạnh mềm quốc gia và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững. Đây là bước chuyển rất căn bản, có ý nghĩa định hướng cả về lý luận, lẫn thực tiễn.
"Điểm mới nổi bật của Nghị quyết số 80-NQ/TW là đã tiếp cận phát triển văn hóa theo tinh thần tích hợp, hiện đại và liên ngành; gắn chặt văn hóa với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa, giáo dục, đối ngoại, xây dựng thương hiệu quốc gia và bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian số. Vì vậy, phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới không thể chỉ được hiểu là phát triển đời sống văn hóa theo nghĩa hẹp, mà phải được nhìn nhận như một cấu phần chiến lược của mô hình phát triển quốc gia", PGS.TS Đinh Công Tuấn nhấn mạnh.
Tham luận tại hội thảo, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc cho rằng, phát triển văn hóa bền vững trước hết phải bắt đầu từ việc xây dựng một nền tảng thể chế đủ mạnh, đủ đồng bộ và đủ linh hoạt. Văn hóa là một lĩnh vực đặc thù, vừa gắn với sáng tạo, bảo tồn, truyền dạy và hưởng thụ các giá trị tinh thần, vừa ngày càng gắn chặt với thị trường, công nghệ, giáo dục, truyền thông, du lịch và quan hệ quốc tế. Vì vậy, nếu tiếp tục quản lý văn hóa bằng tư duy hành chính truyền thống hoặc đầu tư theo lối bao cấp dàn trải thì khó có thể tạo ra sức bật mới.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị tạo ranhững đột phá lớn phát triển văn hóa trong bối cảnh hiện nay. Trong đó phải kể đến đột phá về thu hút nguồn lực đầu tư cho văn hóa. Nghị quyết của Quốc hội cho phép các dự án đầu tư công, dự án PPP, dự án đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, thể thao cần triển khai ngay theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền vẫn được thực hiện dù chưa có trong quy hoạch; cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ sung dự án đầu tư trung hạn và bổ sung kế hoạch sử dụng đất mà không phải chờ kỳ điều chỉnh tiếp theo; thực hiện thủ tục đất đai theo trình tự rút gọn; giao trách nhiệm cho UBND cấp tỉnh bảo đảm đủ quỹ đất cho thiết chế văn hóa, thể thao và các cụm, khu công nghiệp sáng tạo về văn hóa; đồng thời cho phép một số dự án thiết chế trọng điểm được thực hiện đồng thời các thủ tục quy hoạch, khởi công và chủ trương đầu tư.
“Giá trị lớn nhất của nhóm chính sách này là nó tác động trực diện vào 3điểm nghẽn lớn nhất của đầu tư văn hóa hiện nay là quy hoạch, đất đai và thủ tục. Trên thực tế, nhiều dự án văn hóa không thể hình thành hoặc chậm triển khai không phải vì thiếu nhu cầu xã hội, mà vì vướng quy hoạch, thiếu quỹ đất và thủ tục kéo dài”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nói.
Bên cạnh đó, ông Sơn cũng cho rằng Nghị quyết có những đột phá về ưu đãi đầu tư, tài trợ và hoạt động văn hóa. Theo đó, Nghị quyết đề xuất Nhà nước hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh, cơ chế tài chính cho tổ chức, cá nhân đầu tư vào văn hóa; hỗ trợ thuế, phí, lệ phí cho đầu tư vào công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí…Những chính sách này góp phần tái khẳng định vị văn hóa trong hệ thống chính sách phát triển, từ vị trí của một lĩnh vực “hưởng hỗ trợ” sang vị trí của một lĩnh vực được tạo điều kiện để hình thành thị trường.
Bên cạnh đó, về vận hành thiết chế văn hóa, đại biểu Bùi Hoài Sơn cũng chỉ rõ, một trong những bất cập lớn của lĩnh vực văn hóa thời gian qua là không ít thiết chế văn hóa được đầu tư nhưng khai thác kém hiệu quả. Vấn đề không chỉ nằm ở thiếu kinh phí hoạt động, mà còn nằm ở mô hình quản trị, quyền tự chủ và khả năng kết nối với khu vực ngoài nhà nước. Nghị quyết đã đi thẳng vào điểm nghẽn này. Nhóm chính sách này nhằm thể chế hóa yêu cầu của Nghị quyết 80 về hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa quốc gia, bảo đảm 100% chính quyền địa phương hai cấp và lực lượng vũ trang có thiết chế văn hóa đáp ứng nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hóa; phấn đấu 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả; đồng thời có chính sách đặc thù, đột phá thúc đẩy PPP trong lĩnh vực văn hóa, triển khai mô hình “lãnh đạo công - quản trị tư; đầu tư công - quản lý tư; đầu tư tư - sử dụng công.
Từ đó, Nghị quyết cho phép thực hiện PPP đối với công trình thể thao, sân vận động, nhà hát, rạp chiếu phim, trung tâm văn hóa - thể thao cấp tỉnh, cấp xã, bảo tàng, cũng như hoạt động tôn tạo, khai thác và phát huy giá trị di tích, di sản văn hóa; đồng thời thí điểm cho doanh nghiệp thuê quyền khai thác hoặc chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác đối với một số tài sản kết cấu hạ tầng văn hóa, thể thao.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đây là một đột phá rất thực chất. Bởi giá trị của thiết chế văn hóa không nằm ở việc có công trình, mà ở khả năng biến công trình đó thành không gian sống của cộng đồng, nơi diễn ra sáng tạo, giáo dục, giao lưu và hưởng thụ văn hóa. Muốn vậy, cần có năng lực quản trị, năng lực khai thác công chúng, năng lực tổ chức chương trình, ứng dụng công nghệ và kết nối thị trường. Trong nhiều trường hợp, khu vực tư nhân hoặc mô hình hợp tác linh hoạt có thể làm tốt hơn bộ máy quản lý hành chính truyền thống. Dĩ nhiên, đi kèm với mở rộng PPP phải là yêu cầu rất cao về bảo vệ giá trị công ích, chống thương mại hóa quá mức và bảo đảm quyền tiếp cận văn hóa của người dân.
Đặc biệt, Nghị quyết cũng quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển; đồng thời ưu tiên đầu tư cho hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, nền tảng số dùng chung, nội dung số, hạ tầng văn hóa số Việt Nam, thiết chế “văn hóa số”, “bảo tàng mở”, “nhà hát di động”, “thư viện số”...
Tuy nhiên, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, từ chính sách đến hiệu quả chính sách luôn là một quãng đường không đơn giản. Những cơ chế đột phá càng lớn thì càng đòi hỏi năng lực thực thi, năng lực giám sát và chất lượng thiết kế chi tiết càng cao. Trước hết, cần bảo đảm rằng sự đột phá về cơ chế không dẫn đến sự lỏng lẻo về quản trị công. Quan điểm xây dựng Nghị quyết là vừa bảo đảm tính đặc thù, đột phá của văn hóa, vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời phù hợp với yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn ngừa lợi ích nhóm và lợi ích cục bộ. Đây là lưu ý rất quan trọng, bởi trong các lĩnh vực như PPP, cho thuê quyền khai thác, ưu đãi thuế, hỗ trợ đất đai, đặt hàng sáng tạo tác phẩm, nếu thiếu tiêu chí rõ ràng và cơ chế giám sát hiệu quả, rất dễ phát sinh tình trạng xin - cho hoặc lợi dụng chính sách.
Thứ hai, việc triển khai Nghị quyết sẽ đòi hỏi sự đồng bộ hóa cao với nhiều lĩnh vực pháp luật liên quan như đầu tư, đất đai, ngân sách, thuế, tài sản công, đơn vị sự nghiệp công lập và các luật chuyên ngành khác.
Thứ ba, vai trò của địa phương sẽ là yếu tố quyết định. Nghị quyết trao cho chính quyền địa phương nhiều trách nhiệm quan trọng như bổ sung dự án đầu tư trung hạn, bổ sung kế hoạch sử dụng đất, bảo đảm quỹ đất cho thiết chế văn hóa và cụm, khu công nghiệp sáng tạo, huy động nguồn lực phát triển văn hóa, hỗ trợ nghệ nhân, nghệ sĩ. Vì vậy, cần nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện ở cấp địa phương để tránh tình trạng nơi làm tốt, nơi làm hình thức.
Thứ tư, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh đếnviệc đo lường hiệu quả chính sách cần được đặt ra ngay từ đầu. Đối với một Nghị quyết có tính đột phá, cần có hệ thống chỉ số không chỉ về đầu vào, mà cả về đầu ra và tác động: mức độ hoạt động thực chất của thiết chế văn hóa, số lượng và chất lượng sản phẩm được đặt hàng, mức độ tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của người dân, tăng trưởng của công nghiệp văn hóa, số lượng nhân tài được đào tạo và thu hút, cũng như mức độ hiện diện của sản phẩm văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Từ khóa: văn hóa, quản lý văn hóa, nghị quyết 80 về phát triển văn hóa, văn hóa,trường đh văn hóa hà nội,phát triển văn hóa,công nghiệp văn hóa,văn hóa giải trí
Thể loại: Xã hội
Tác giả: nguyễn trang/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN