Nghị quyết 19: AI là động lực phát triển mới

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra một chuyển dịch căn bản: từ mô hình tăng trưởng còn dựa nhiều vào vốn, tài nguyên, lao động chi phí thấp và gia công sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI).

Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành các nền tảng của mô hình phát triển mới; đến năm 2035 cơ bản hoàn thành quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển sáng tạo, bền vững và hội nhập.

Nhiều chuyên gia cho rằng, việc cụ thể hóa Nghị quyết số 19 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV chính là đòn bẩy chiến lược để tháo gỡ các nút thắt còn tồn động, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

PGS. TS Bùi Đức Thọ, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết: “Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã vạch rõ con đường không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng cũ vốn phụ thuộc vào tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ. Yêu cầu của "Kỷ nguyên mới", đòi hỏi một mô hình phát triển hoàn toàn mới. Đó là mô hình dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị quốc gia hiện đại".

Một trong những nhiệm vụ và giải pháp về Kinh tế đã được Nghị quyết 19 nêu rõ “Xây dựng và triển khai chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá thế hệ mới; chú trọng xây dựng năng lực công nghệ; ưu tiên phát triển một số ngành mũi nhọn như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, lượng tử, công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến - chế tạo tiên tiến, công nghiệp xanh và công nghiệp năng lượng; phát triển công nghiệp vật liệu trở thành ngành công nghiệp cốt lõi, nền tảng; chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn với tăng tỉ lệ nội địa hoá. Xây dựng hạ tầng số, dữ liệu, năng lực tính toán và trí tuệ nhân tạo thành hạ tầng chiến lược của quốc gia; phát huy vai trò của Trung tâm dữ liệu quốc gia; phát triển các trung tâm dữ liệu quy mô lớn, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, nền tảng số dùng chung, dữ liệu mở quốc gia và các trung tâm xuất sắc về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, điện toán lượng tử. Phát triển hệ thống logistics hiện đại, đa phương thức, kết nối hiệu quả cảng biển, cửa khẩu, sân bay, đường sắt, đường cao tốc, khu công nghiệp và các hành lang kinh tế...”.

Như vậy, một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết là xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ưng dụng trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính; nâng cao năng suất lao động và hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm của mô hình phát triển mới.

Nghị quyết 19 nhìn nhận thẳng vào vấn đề khi chỉ ra tăng trưởng vẫn còn chủ yếu theo chiều rộng; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp; năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế. Từ thực trạng đó, Nghị quyết đặt yêu cầu chuyển mạnh sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao.

Trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đặt vấn đề về bước chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và con người.

Điểm cốt lõi vì vậy không nằm ở việc nền kinh tế có thêm bao nhiêu công nghệ mới, mà nằm ở khả năng chuyển công nghệ thành năng suất thực tế. Nếu các thế hệ tự động hóa trước đây chủ yếu thay thế một số thao tác cơ học hoặc công việc lặp lại, AI có thể tham gia vào xử lý dữ liệu, dự báo, tối ưu hóa sản xuất, quản trị chuỗi cung ứng, tài chính, nghiên cứu - phát triển, marketing, dịch vụ khách hàng và hỗ trợ quá trình ra quyết định.

AI có thể trở thành động lực mới cho năng suất lao động, nhưng công nghệ tự thân không tự động tạo ra năng suất. Giá trị chỉ xuất hiện khi công nghệ được tích hợp vào quy trình sản xuất, kinh doanh và quản trị.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho rằng, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng lấy năng suất, khoa học công nghệ và kinh tế số làm động lực, thay cho sự phụ thuộc vào vốn và lao động.

Đối với doanh nghiệp, chuyển đổi số không thể chỉ dừng ở việc sử dụng phần mềm quản lý hay bán hàng trực tuyến. Công nghệ phải được đưa vào quá trình ra quyết định, quản trị dòng tiền, quản lý sản xuất, dự báo thị trường và chăm sóc khách hàng.

Khi AI ngày càng được ứng dụng rộng rãi, doanh nghiệp sản xuất, thương mại, logistics, tài chính hay dịch vụ đều phải tính đến khả năng ứng dụng công nghệ để giảm chi phí và nâng cao hiệu quả.

Công nghệ muốn phát triển, thể chế phải mở đường

Một luận điểm khác đặc biệt quan trọng của Nghị quyết 19 là khoa học - công nghệ không thể tách khỏi đổi mới thể chế.

AI, kinh tế số hay các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng đều có tốc độ phát triển nhanh hơn nhiều so với chu kỳ xây dựng chính sách truyền thống.

Nếu khuôn khổ pháp lý không theo kịp, công nghệ mới có thể bị chậm triển khai; nhưng nếu buông lỏng quản lý, những vấn đề liên quan tới dữ liệu cá nhân, an toàn hệ thống, sở hữu trí tuệ, trách nhiệm của thuật toán và quyền của con người lại có thể phát sinh.

Nghị quyết 19 vì vậy yêu cầu hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; tạo điều kiện thử nghiệm mô hình kinh doanh và phương thức quản trị mới; đồng thời hoàn thiện khung pháp lý về trí tuệ nhân tạo và công nghệ số, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền con người trong môi trường số. Nghị quyết cũng nhấn mạnh chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm thông minh”, quản lý theo kết quả và hiệu quả đầu ra.

Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thì thể chế phải đi trước để mở đường cho sáng tạo:“Tôi cho rằng kết quả nổi bật nhất của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thời gian qua không nằm ở thành tựu đơn lẻ, mà là một bước chuyển về nhận thức, tư duy và cách làm. Nhắc đến "điểm nghẽn thể chế" thực chất là nói đến những rào cản đã tồn tại nhiều năm như thủ tục nhiều, cách quản lý thiên về kiểm soát quy trình, không gian thử nghiệm hạn hẹp, quyền sở hữu và khai thác kết quả nghiên cứu chưa đủ tạo động lực, thị trường công nghệ chưa thành dòng chảy. Vì vậy, việc Quốc hội thông qua 10 luật trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là thêm văn bản, mà là tạo ra một khuôn khổ mới, mở không gian phát triển mới cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc mở khóa thể chế lần này rõ nhất ở đổi mới tư duy quản lý khoa học và công nghệ”.

Đồng thời để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và bền vững thì khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cần chuyển các mục tiêu vĩ mô thành năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh thông qua các nhóm giải pháp chiến lược.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh: “Chúng ta đã đặt nền móng cho một hệ quy chiếu phát triển mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được định hướng theo kết quả đầu ra, lấy hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội làm tiêu chí trung tâm. Toàn bộ chuỗi nghiên cứu - ứng dụng - thương mại hóa được đặt trong logic giải quyết bài toán phát triển, thay vì vận hành rời rạc. Việc hát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và hạ tầng số hiện đại cũng cần đặt trọng tâm là nền tảng dữ liệu dùng chung quốc gia, các trung tâm dữ liệu, trung tâm tính toán hiệu năng cao và AI, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, hạ tầng bưu chính - viễn thông hiện đại, đồng bộ”.

Vai trò của AI và công nghệ không chỉ giới hạn trong khu vực doanh nghiệp. Một trong những thay đổi đáng chú ý được Nghị quyết 19 đặt ra là xây dựng Chính phủ số, hệ thống dữ liệu dùng chung và các nền tảng số phục vụ theo dõi việc thực hiện nghị quyết, chiến lược, quy hoạch, đầu tư công và các chỉ tiêu phát triển.

Nếu được triển khai thực chất, đây có thể là bước dịch chuyển từ quản lý dựa chủ yếu vào báo cáo hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu.

PGS.TS Trần Đình Thiên, Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cũng nhấn mạnh yêu cầu cải cách thể chế phải “đi trước một bước”, đóng vai trò “mở đường” cho các nguồn lực xã hội và công nghệ mới.

Một hệ thống AI dù tiên tiến đến đâu cũng khó đưa ra kết quả đáng tin cậy nếu dữ liệu đầu vào phân mảnh, thiếu chuẩn hóa hoặc không liên thông. Bởi vậy, xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia, tiêu chuẩn dữ liệu và cơ chế chia sẻ dữ liệu phải được coi là hạ tầng thiết yếu của mô hình phát triển mới, tương tự vai trò của giao thông hay năng lượng đối với nền kinh tế công nghiệp.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần được định hướng theo kết quả đầu ra, lấy hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội làm tiêu chí trung tâm; chuỗi nghiên cứu - ứng dụng - thương mại hóa phải gắn với các bài toán thực tế của phát triển.

Muốn AI và khoa học - công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng, doanh nghiệp phải đủ năng lực hấp thụ công nghệ. Điều đó đòi hỏi không chỉ vốn đầu tư mà còn đội ngũ kỹ sư, chuyên gia dữ liệu, nhà quản trị hiểu công nghệ và lực lượng lao động có khả năng làm việc cùng AI.

Từ những định hướng của Nghị quyết 19 có thể nhận diện ba bài toán lớn quyết định hiệu quả của quá trình chuyển đổi.

Thứ nhất là biến khoa học - công nghệ thành năng suất, thay vì coi số lượng đề tài, dự án hay số công nghệ được triển khai là kết quả cuối cùng.

Thứ hai là xây dựng năng lực công nghệ nội sinh. Việt Nam có thể sử dụng công nghệ của thế giới, nhưng một nền kinh tế muốn có sức chống chịu cao cần từng bước làm chủ dữ liệu, công nghệ chiến lược, nhân lực và các nền tảng quan trọng.

Thứ ba là rút ngắn khoảng cách chuyển đổi. AI có thể tạo ra năng suất rất lớn cho những doanh nghiệp đủ vốn, dữ liệu và nhân lực, nhưng cũng có nguy cơ làm gia tăng khoảng cách với doanh nghiệp nhỏ, người lao động kỹ năng thấp hoặc các khu vực chưa có hạ tầng số tương xứng.

Vì vậy, phát triển AI không thể chỉ là cuộc đua về thuật toán và năng lực tính toán. Nó phải đi cùng đào tạo lại lao động, phát triển kỹ năng số, bảo đảm an toàn dữ liệu và tạo cơ hội tiếp cận công nghệ rộng rãi hơn.

Tinh thần chung của Nghị quyết 19 là hướng tới mô hình phát triển mới nhưng không lấy công nghệ làm mục tiêu cuối cùng. Con người vẫn được xác định là chủ thể trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển của kinh tế xã hội và đất nước.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, nhận định rằng các mục tiêu tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số hay khoa học - công nghệ cuối cùng đều phải hướng tới phát triển con người, nâng cao đời sống và năng lực làm chủ tương lai.

Bởi vậy, thước đo cuối cùng của AI không phải Việt Nam có bao nhiêu mô hình trí tuệ nhân tạo, bao nhiêu trung tâm dữ liệu hay bao nhiêu doanh nghiệp công nghệ. Thước đo thực chất nên là: AI và khoa học - công nghệ tăng năng suất và hiệu quả công việc ra sao, taọ ra bao nhiêu giá trị gia tăng, bao nhiêu doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao hơn và chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện ra sao.

Từ khóa: nghị quyết số 19, Nghị Quyết số 19, AI, Việt Nam,khoa học công nghệ,trí tuệ nhân tạo,hiệu quả của nghị quyết số 19,tăng trưởng kinh tế

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: bảo linh/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập