Ngành học lỗi thời và thước đo từ thị trường lao động
Cập nhật: 30 phút trước
Ngành học lỗi thời và thước đo từ thị trường lao động
Làm sao để doanh nghiệp Việt làm tổng thầu những dự án hạ tầng giao thông lớn?
VOV.VN - Trước yêu cầu rà soát các ngành học lỗi thời, giáo dục đại học cần đổi mới chương trình đào tạo, cập nhật tác động của AI và lấy nhu cầu thị trường lao động, chất lượng việc làm sau tốt nghiệp làm thước đo.
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa yêu cầu Bộ GD&ĐT rà soát các ngành học lỗi thời, trong bối cảnh nhiều cử nhân ra trường không có việc làm, làm trái chuyên môn, hoặc phải quay lại học nghề.
Khi AI và công nghệ đang làm thay đổi rất nhanh thị trường lao động, yêu cầu nhìn lại cơ cấu đào tạo càng trở nên cấp thiết. Thế nào là một ngành học lỗi thời? Và cần làm gì để việc điều chỉnh đào tạo bám sát hơn nhu cầu thực tế của thị trường lao động?
Hơn 3 năm nay, Nguyễn Ngọc Quý, 23 tuổi, quê Hưng Yên, gắn bó với những cuốc xe ôm công nghệ ở Hà Nội. Tốt nghiệp cao đẳng chuyên ngành Marketing nhưng khó tìm việc phù hợp, Quý chọn chạy xe để trang trải cuộc sống và học thêm ngành điện tại Trường Cao đẳng nghề Bách khoa Hà Nội, tìm kiếm một hướng đi mới cho tương lai:
"Em cảm thấy ngành điện hiện tại thiết thực với cuộc sống. Sau này em có thể đi làm về điện công nghiệp, đi vào các nhà máy. Em chạy xe này giúp được cho em tiền uống, giúp đỡ được một phần nào cho gia đình".
Không còn trẻ như Quý để bắt đầu học lại một nghề mới, Trần Xuân Hoàng, 31 tuổi, ở phường Phúc Lợi, Hà Nội, đã phải bươn chải nhiều công việc sau khi nghỉ làm ở cơ quan nhà nước trong đợt sắp xếp, tinh gọn bộ máy. Từng học Công nghệ thông tin, nhưng Hoàng không thể trở lại với nghề mình đã được đào tạo, bởi những kiến thức lập trình từ gần chục năm trước giờ không còn phù hợp thực tế:
"Ngày xưa chỉ dạy code thôi, dạy code từng mảng một, nối với nhau tạo thành cả một phần mềm. AI bây giờ chỉ cần câu lệnh là được, cho nên coder nhỏ, freelancer bây giờ coi như “toi” hết rồi, không làm được. Trường bây giờ muốn đào tạo tốt về cái này thì phải dạy cách viết prompt, cách hiểu về hoạt động của AI".
Từng nhiều năm công tác tại Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT), TS Lê Viết Khuyến, nguyên Phó Vụ trưởng cho rằng, yêu cầu rà soát ngành học, điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp nhu cầu xã hội đã được đặt ra từ hàng chục năm trước.
Theo ông Khuyến, những bất cập hiện nay một phần bắt nguồn từ tư duy quản lý thời bao cấp, khi Nhà nước quy hoạch ngành nghề và phân bổ chỉ tiêu đào tạo. Trong khi nền kinh tế đã chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, người học phải tự tìm việc làm và các cơ sở đào tạo cần đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao động.
Ủng hộ chủ trương đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả đào tạo của Trung ương, nhưng TS Lê Viết Khuyến cho rằng, điều quan trọng là phải được triển khai thực chất ở các cấp: "Nhà nước chỉ đưa ra những khuyến cáo với các trường mang tính chất định hướng. Và thứ hai là đưa ra chuẩn của các chương trình. Các trường được quyền xây dựng căn cứ vào điều tra nhu cầu xã hội rất rộng rãi, mới xây dựng nên những chương trình đào tạo theo những chuẩn mà Bộ Giáo dục và Đào tạo hay Nhà nước ban hành. Còn để kiểm tra có phù hợp nhu cầu xã hội không thì lại phải lấy ý kiến sản phẩm đào tạo ra, sau đó lấy ý kiến đánh giá của các đơn vị tuyển dụng".
Bổ sung góc nhìn từ thị trường lao động, PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội cho rằng, không nên vội kết luận một ngành nghề đã lỗi thời hay đóng cửa ngành đào tạo, mà cần đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.
Việc này phải dựa trên nhiều nguồn thông tin: tình hình việc làm, mức lương và cơ hội thăng tiến của sinh viên sau tốt nghiệp; đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng nhân lực; tỷ lệ thất nghiệp, vị trí tuyển dụng còn trống và xu hướng nhu cầu lao động. Bên cạnh đó, các trường cần tăng cường kết nối doanh nghiệp trong dự báo nhu cầu, xây dựng chương trình, tổ chức thực tập và tham gia giảng dạy.
Theo bà Hương, đào tạo không chỉ trang bị kiến thức cho người học, mà còn phải phát triển kỹ năng, thái độ và khả năng thích ứng: "Trong xây dựng kế hoạch đào tạo thì phải lưu ý một điều kiện nữa là giáo dục có độ trễ. Đóng cửa cái này rồi sang năm lại đóng cửa cái khác à? Không nên làm như thế, mà phải có sự rà soát. Bây giờ nhờ công nghệ thông tin, nhờ AI, mình có thể làm rà soát trên diện rộng. Sau đó đưa ra những kế hoạch để có thể phát triển ngành nghề đào tạo ấy lên, hoặc ngành nghề đào tạo sẽ chuyển thành một mảng đào tạo của một nhóm ngành nghề mới chẳng hạn".
Đồng tình quan điểm này, chuyên gia giáo dục, TS Vũ Việt Anh, Tổng Giám đốc Học viện Thành Công cho rằng, cần phân biệt giữa ngành học lỗi thời và chương trình đào tạo lỗi thời. Việc rà soát cần dựa trên nhu cầu thị trường lao động, tác động của AI đến công việc, mức độ đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng nguồn lực đào tạo.
AI không xóa bỏ một ngành nghề mà trước hết thay thế những công việc lặp lại, có thể tự động hóa. Vì vậy, đại học không nên là một “nhà máy” sản xuất lao động cho nhu cầu tuyển dụng hiện tại hay chạy theo những ngành “hot”, mà phải tạo ra tri thức, phát triển tư duy độc lập và chuẩn bị nguồn lực cho những lĩnh vực chiến lược trong tương lai:
"Như ngoại ngữ chẳng hạn, nếu chỉ đơn thuần cả bốn năm năm dạy kỹ năng ngôn ngữ không, thì chắc chắn chúng ta khó có thể cạnh tranh được với AI. Nhưng ngoại ngữ mà kết hợp logistics, thương mại quốc tế, luật hay du lịch… thì vẫn có tiềm năng để phát triển.
Trong mỗi ngành, phần kiến thức nào bị lỗi thời và phần năng lực nào đang trở nên có giá trị hơn thì chúng ta cần phải tái cấu trúc và sắp xếp lại. Có những lĩnh vực khoa học cơ bản, văn hóa ngôn ngữ hiếm, hay những ngành chiến lược quốc gia chưa có thị trường lao động lớn ngay, nhưng đất nước vẫn phải duy trì".
Cũng theo TS Vũ Việt Anh, cần xây dựng hệ thống dữ liệu và dự báo thị trường lao động đủ tốt để làm cơ sở điều chỉnh đào tạo, thay vì khảo sát mỗi năm một lần. Doanh nghiệp cũng cần tham gia từ khâu thiết kế chương trình.
Bên cạnh đó, các trường cần đánh giá chất lượng qua năng lực thực tế của người học, như tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, sử dụng AI và khả năng thích ứng thay đổi của thị trường lao động.
Một tấm bằng đại học có thể mở ra cánh cửa nghề nghiệp, nhưng giá trị của nó còn phụ thuộc những năng lực mà người học mang theo sau ngày tốt nghiệp. Khi trí tuệ nhân tạo và công nghệ liên tục làm biến đổi thị trường lao động, việc rà soát các ngành học lỗi thời đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ.
Đào tạo cần đi trước nhu cầu nhân lực, cập nhật cùng nhịp phát triển của xã hội và trang bị cho người học khả năng thích ứng lâu dài. Một tấm bằng đại học từng được xem như chiếc vé bước vào thị trường lao động. Nhưng chiếc vé ấy sẽ mất giá nếu chuyến xe tiếp nhận không còn chỗ cho những gì được đào tạo.
Đó là nghịch lý đang đặt ra với giáo dục đại học: có những người học đủ bốn năm, thậm chí lâu hơn, nhưng lại phải bắt đầu một hành trình học nghề khác để tìm việc. Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu gọi đây là một sự lãng phí và yêu cầu Bộ GD&ĐT rà soát những ngành học lỗi thời.
Nhưng “ngành học lỗi thời” là gì? Có phải cứ ít việc làm là lỗi thời? Câu trả lời không đơn giản như vậy. Một ngành học không lỗi thời chỉ vì thị trường lao động hôm nay ít tuyển. Ngược lại, một ngành cũng không thể được xem là phù hợp chỉ vì vẫn còn đông người đăng ký. Giá trị của ngành học phải được nhìn trong một khoảng thời gian dài hơn chu kỳ tuyển sinh.
Nếu một chương trình đào tạo mất bốn năm để tạo ra một cử nhân, nhưng dự báo nhu cầu nhân lực chỉ được thực hiện theo kiểu nhìn vào những gì doanh nghiệp đang cần, thì giáo dục luôn chạy sau thị trường một bước. Vì thế, vấn đề nằm ở cách chúng ta xác định một ngành học còn giá trị đến đâu.
Một ngành có thể vẫn giữ tên gọi cũ nhưng nội dung bên trong đã thay đổi hoàn toàn. Một ngành khác tưởng như mới mẻ nhưng lại đang dạy những kỹ năng mà công nghệ đã làm thay. Và cũng có những ngành chưa bao giờ “hot”, nhưng xã hội vẫn cần, thậm chí sẽ cần nhiều hơn trong tương lai.
Do đó, điều cần rà soát trước tiên là chất lượng và sức sống của chương trình đào tạo. Những nội dung không còn phù hợp cần được thay thế; những kiến thức nền tảng cần được củng cố; các kỹ năng mới phải được tích hợp vào quá trình học tập.
Giáo dục đại học cần giúp sinh viên hiểu sâu lĩnh vực mình theo đuổi, đồng thời biết vận dụng kiến thức vào những tình huống thực tế, sử dụng công nghệ hiệu quả và chủ động cập nhật năng lực nghề nghiệp.
Cùng với đổi mới chương trình là yêu cầu nâng cao năng lực dự báo thị trường lao động. Cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động có khả năng kết nối dữ liệu từ cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục.
Thông tin về nhu cầu tuyển dụng, mức độ thiếu hụt nhân lực, yêu cầu kỹ năng và xu hướng phát triển ngành nghề cần được phân tích định kỳ, công bố theo cách dễ tiếp cận để các trường có căn cứ điều chỉnh kế hoạch đào tạo.
Tầm nhìn dự báo cũng cần đủ rộng. Nhu cầu tuyển dụng hiện tại giúp giải quyết bài toán trước mắt, nhưng định hướng đào tạo phải tính đến những ngành nghề có vai trò chiến lược, những lĩnh vực đang hình thành và những năng lực sẽ trở nên quan trọng trong tương lai. Đầu tư cho nhân lực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng hay đường sắt là những ví dụ cho thấy đào tạo cần gắn với định hướng phát triển dài hạn của đất nước.
Tuy nhiên, dự báo tốt đến đâu cũng cần được chuyển hóa thành thay đổi cụ thể trong nhà trường. Các cơ sở đào tạo cần chủ động rà soát chuẩn đầu ra, cập nhật học liệu, đổi mới phương pháp giảng dạy và mở rộng cơ hội thực tập. Việc điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh nên dựa trên năng lực đào tạo, chất lượng đầu ra và triển vọng nghề nghiệp, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng thí sinh đăng ký.
Doanh nghiệp cũng cần tham gia sâu hơn vào quá trình, bởi chính họ hiểu rõ nhất công việc đang đòi hỏi điều gì. Sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp có thể bắt đầu từ việc xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, tiếp nhận sinh viên thực tập đến đánh giá năng lực đầu ra. Khi phản hồi từ thị trường được đưa trở lại giảng đường thường xuyên, thì chương trình đào tạo sẽ có cơ hội được điều chỉnh kịp thời hơn.
Đặc biệt, hiệu quả đào tạo cần được đánh giá bằng hệ thống tiêu chí thực chất. Tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp, mức độ phù hợp giữa công việc và chuyên môn, sự hài lòng của đơn vị sử dụng lao động, khả năng phát triển nghề nghiệp của cựu sinh viên đều là những thông tin quan trọng. Việc đánh giá cần tính đến sự khác biệt giữa các ngành, địa phương và điều kiện kinh tế, tránh biến một chỉ số đơn lẻ thành căn cứ duy nhất để quyết định tương lai của cả ngành học.
Và người học cũng cần thay đổi cách nhìn về tấm bằng. Bằng đại học không phải đích đến của việc học, càng không phải giấy bảo hành cho một công việc suốt đời. Nó phải là nền móng để người học có thể tiếp tục học, tiếp tục chuyển đổi và tiếp tục tạo ra giá trị.
Nhìn rộng hơn, rà soát ngành học lỗi thời là cơ hội để giáo dục đại học hoàn thiện mối liên kết với nền kinh tế và xã hội, với đích đến là làm cho mỗi ngành có mục tiêu rõ hơn, chương trình thiết thực hơn và người học có nhiều cơ hội phát triển hơn. Ngành cần điều chỉnh thì mạnh dạn đổi mới; ngành có tiềm năng thì đầu tư đúng hướng; những lĩnh vực thiết yếu cho tương lai thì phải được chuẩn bị từ sớm.
Một giảng đường tốt không thể dự báo chính xác mọi công việc sẽ xuất hiện trong hai mươi năm tới. Nhưng giảng đường ấy có thể trao cho sinh viên nền tảng đủ vững để bước vào những công việc chưa từng có tên hôm nay.
Đó cũng là cách giáo dục đi trước một bước: không chạy theo từng cơn sóng tuyển dụng, mà nhận diện dòng chảy dài hạn của nền kinh tế, chuẩn bị con người cho những thay đổi đang đến và tạo điều kiện để họ tiếp tục trưởng thành trong suốt hành trình nghề nghiệp.
Từ khóa: lao động, Ngành học lỗi thời, Giáo dục đại học, Thị trường lao động, Trí tuệ nhân tạo, AI, Đào tạo nhân lực, Việc làm, Đổi mới giáo dục
Thể loại: Xã hội
Tác giả: minh hiếu/vov giao thông
Nguồn tin: VOVVN