Động lực tăng trưởng cũ dần cạn, Việt Nam cần gì để bứt phá?
Cập nhật: 47 phút trước
Đăng ký người phụ thuộc: Những giấy tờ cần có để được giảm trừ thuế
Động lực tăng trưởng cũ dần cạn, Việt Nam cần gì để bứt phá?
VOV.VN - Sau 40 năm Đổi mới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng từ khoảng 80 USD lên 4.970 USD. Tuy nhiên, khi lợi thế về tài nguyên, lao động giá rẻ dần thu hẹp, Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để bứt phá.
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt bước tiến dài về kinh tế và thu nhập. Từ mức thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 80 USD năm 1986, đến năm 2025, con số này đạt 4.970 USD, đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao.
Tuy nhiên, theo PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công, Trưởng khoa Kế hoạch phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân, nếu so sánh với các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Á, Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Singapore, chặng đường 40 năm của Việt Nam vẫn là điều cần suy ngẫm.
“Để trở thành nước tiên tiến, họ cũng chỉ mất tối đa khoảng 40 năm; có nước khoảng 30 năm, có nước khoảng 28 năm”, ông Sơn nói. Theo ông, các nền kinh tế này chỉ mất khoảng 25-30 năm, hoặc tối đa 40 năm, để vươn lên nhóm những nước tiên tiến, đạt mức thu nhập cao và trình độ phát triển như hiện nay.
Sự khác biệt không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng mà còn ở chất lượng và động lực tăng trưởng. Từ những năm 1990, kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ. Khi chuyển từ nước thu nhập thấp sang thu nhập trung bình thấp, mô hình tăng trưởng tiếp tục thiên về chiều rộng, dựa nhiều vào thu hút FDI và gia công. Giá trị gia tăng do doanh nghiệp trong nước tạo ra còn thấp, trong khi các ngành sử dụng nhiều lao động vẫn chiếm tỷ trọng lớn.
Đến nay, Việt Nam đang chuyển sang mô hình dựa nhiều hơn vào hiệu quả và năng suất. Tuy nhiên, đóng góp của năng suất vẫn chưa đạt 50%, mới ở mức khoảng 48,6%; tốc độ tăng năng suất cũng còn thấp.
Theo PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn, đây là điểm nghẽn nếu Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao từ nay đến năm 2045.
“Mô hình tăng trưởng của chúng ta phải chuyển đổi rất mạnh mẽ, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo”, ông Sơn nhấn mạnh.
Quan trọng hơn, nền kinh tế cần tạo ra những giá trị đặc thù của Việt Nam, thay vì chủ yếu tham gia các khâu gia công trong chuỗi giá trị toàn cầu. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Singapore hay Hồng Kông (Trung Quốc) cho thấy, để đi xa hơn, các nền kinh tế phải xây dựng được những doanh nghiệp, thương hiệu đủ mạnh, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao.
Cùng quan điểm, PGS.TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, mô hình kinh tế Việt Nam trước đây chủ yếu phụ thuộc vào hai nguồn lực là đất đai và lao động trình độ thấp. Tuy nhiên, những yếu tố từng được xem là lợi thế này đang dần trở thành điểm hạn chế trong quá trình phát triển.
Với đất đai, Việt Nam vẫn gặp nhiều hạn chế trong quản lý và khai thác hiệu quả. Theo ông Thiên, muốn đổi mới mô hình phát triển cần thoát khỏi những quan điểm và cách quản lý cũ về “đất”. Đây là điểm then chốt để có thể đổi mới mô hình phát triển.
Tương tự, lợi thế lao động giá rẻ cũng cần được nhìn nhận lại. “Lợi thế” này ít có ý nghĩa với khu vực nội địa nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với khu vực nước ngoài. Nếu tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ, nền kinh tế có thể tăng trưởng nhưng khó chuyển đổi về cấu trúc.
“Chúng ta cần một mô hình kinh tế thoát được khỏi lao động ‘chân tay’. Nếu không nền kinh tế của chúng ta có thể tăng trưởng nhưng lại không thể chuyển đổi về cấu trúc”, PGS.TS. Trần Đình Thiên chỉ rõ.
Theo ông, thời đại mới đang chuyển từ lao động chân tay sang lao động trí óc, lao động sáng tạo. Doanh nghiệp phải là trung tâm của công cuộc đổi mới. Điều này đòi hỏi phải nhìn nhận đúng năng lực của doanh nghiệp và tạo môi trường cạnh tranh tự do, công khai, minh bạch để Nghị quyết 68 thực sự mang lại ý nghĩa thiết thực.
Trong khi đó, AI và tự động hóa đang khiến nhiều lao động có nguy cơ bị đẩy ra khỏi “cuộc chơi”. Tuy nhiên, đây vẫn là một nguồn lực lớn và cần được quan tâm bằng những cơ chế, chính sách phù hợp.
Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử cũng buộc doanh nghiệp phải chủ động thay đổi hoạt động sản xuất, kinh doanh để thích ứng. Theo PGS.TS. Trần Đình Thiên, điều này đặt ra yêu cầu đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách và nghiên cứu trong việc nhìn nhận đúng, trúng vấn đề và sớm có giải pháp, mô hình quản lý hiệu quả.
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng, Việt Nam cần nâng cao chất lượng thể chế, tạo ra một “cơ chế truyền động” để các chủ trương, chính sách thực sự đi vào cuộc sống. Thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết về đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp tư nhân và các chính sách liên quan. Tuy nhiên, “điều quan trọng là làm thế nào để các nghị quyết và định hướng đó được chuyển thành những kết quả cụ thể, tạo ra giá trị gia tăng và những giá trị đặc thù trong quá trình phát triển”.
Theo đề xuất của ông Sơn, mô hình phát triển trong giai đoạn tới cần bắt đầu từ một định hướng quốc gia và năng lực trung tâm đủ mạnh. Các quốc gia phải giải phóng và nuôi dưỡng năng lực trong nước thông qua tầm nhìn dài hạn, phối hợp hiệu quả, nắm bắt các xu hướng toàn cầu, xây dựng sức mạnh để “tồn tại, duy trì, đổi mới và phát triển”.
Đi cùng với đó là yêu cầu tự chủ, tích hợp và liên kết giữa Chính phủ, doanh nghiệp và khu vực công nghệ.
“Bộ máy chính quyền chuyên nghiệp, dựa vào pháp quyền, phải kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp và khu vực công nghệ”, ông Sơn nói.
Ở cấp độ chính sách, cần có chính sách công nghiệp có trọng tâm, đi kèm kỷ luật hiệu quả. Sự hỗ trợ như tín dụng, mua sắm và tiêu chuẩn cần có điều kiện; đồng thời xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và chính sách mua sắm ưu tiên đối với doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân trong nước, với “các mốc thời gian và điều khoản kết thúc rõ ràng”.
Cùng với thể chế và chính sách là yêu cầu về nguồn nhân lực và năng lực mới. Theo ông Sơn, cần đầu tư cho giáo dục, kỹ năng, mua sắm công nghệ và nghiên cứu, phát triển.
Cơ sở hạ tầng, tài chính phát triển và nền tảng kỹ thuật số cũng cần được nâng cấp, từ năng lực hậu cần, khả năng tiếp cận nguồn vốn đến hạ tầng kỹ thuật và các nền tảng dùng chung như AI, IoT hoặc dữ liệu đám mây. “Những nội dung này cần được phát triển trên một hệ sinh thái”. Đặc biệt, trong kỷ nguyên công nghệ số, đây là yếu tố quan trọng có thể giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển.
Cuối cùng, Việt Nam cần mở cửa có chiến lược và hội nhập toàn cầu. Theo PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn, Việt Nam thu hút FDI nhưng phải đồng thời xây dựng liên kết nội địa, đáp ứng các tiêu chuẩn và nâng cấp doanh nghiệp trong nước.
Như vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tăng trưởng mà phải thay đổi động lực tăng trưởng, từ tài nguyên, đất đai và lao động giá rẻ sang năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và khả năng tạo ra giá trị đặc thù của Việt Nam.
Từ khóa: tăng trưởng, đổi mới mô hình phát triển, Nghị quyết 19, thu nhập bình quân đầu người, mô hình tăng trưởng
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: diệp diệp/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN