Điều chỉnh, bổ sung Chiến lược nợ công đến năm 2030

Cập nhật: 2 giờ trước

VOV.VN - Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 15/10/2026 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nợ công đến năm 2030.

Cụ thể, Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 1 Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 về quan điểm xây dựng và thực hiện Chiến lược như sau:

"a) Bám sát, cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm đề ra tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Trung ương và các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030. Công tác quản lý nợ công luôn bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, chỉ chi trong khả năng của nền kinh tế và chỉ vay trong khả năng trả nợ, vay nợ phải bảo đảm an ninh tài chính quốc gia. Nợ công tiếp tục là đòn bẩy cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực tăng trưởng bền vững. Trong huy động vốn, tiếp tục thực hiện nguyên tắc nguồn vay trong nước là cơ bản, quyết định, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả với nguồn vay nước ngoài là quan trọng."

Mục tiêu của Chiến lược trong giai đoạn 2026 - 2030

Đồng thời, Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi điểm b khoản 3 Điều 1 quy định về mục tiêu của Chiến lược trong giai đoạn 2026 - 2030 như sau:

"b) Giai đoạn 2026 - 2030

Kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước theo mức được Quốc hội phê duyệt trong dự toán ngân sách nhà nước và kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 - 2030; bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công trong giới hạn được Quốc hội phê duyệt, trong đó:

- Nợ công hằng năm không quá 60% GDP, nợ Chính phủ hằng năm không quá 50% GDP.

- Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 25% tổng thu ngân sách nhà nước.

- Nợ nước ngoài hằng năm của quốc gia không quá 50% GDP."

Quản lý chặt chẽ việc vay, trả nợ của chính quyền địa phương

Quyết định số 1989/QĐ-TTg cũng sửa đổi điểm c, điểm d và điểm đ khoản 4 Điều 1 về định hướng huy động và sử dụng vốn vay như sau:

"c) Thực hiện việc vay vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài gắn với khả năng trả nợ trong dài hạn; ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao; lựa chọn nguồn vốn và điều kiện vay phù hợp, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay.

d) Quản lý chặt chẽ việc vay, trả nợ của chính quyền địa phương, bảo đảm trong hạn mức dư nợ theo quy định của pháp luật; bố trí trả nợ đầy đủ, đúng hạn và tăng cường chủ động quản lý rủi ro từ hoạt động vay của địa phương.

đ) Kiểm soát chặt chẽ nghĩa vụ nợ dự phòng, việc đảm bảo nguồn trả nợ được Chính phủ bảo lãnh; quản lý các khoản bảo lãnh, đảm bảo đúng quy định, hiệu quả trong phạm vi hạn mức bảo lãnh, tập trung ưu tiên nguồn vốn để bảo lãnh cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia, được Quốc hội, Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tư. Kiểm soát hạn mức bảo lãnh Chính phủ hằng năm trong phạm vi hạn mức bảo lãnh Chính phủ 5 năm đã được Quốc hội quyết định; tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ và việc quyết định hạn mức trong trường hợp vượt tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội của năm trước thực hiện theo khoản 4 Điều 24 Luật Quản lý nợ công. Lựa chọn một số công trình phát triển cơ sở hạ tầng có tính chất lan tỏa, có khả năng tạo nguồn thu trả nợ để Chính phủ cho vay lại từ nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài."

Cùng đó, Quyết định số 1989/QĐ-TTg bổ sung điểm b vào sau điểm a khoản 4 Điều 1 theo hướng tập trung đầu tư vào các chương trình, dự án trọng điểm nhằm khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài như sau:

"b) Tập trung đầu tư cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các chương trình, dự án theo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo đột phá thu hút vốn đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài."

Theo đó, Quyết định số 1989/QĐ-TTg đổi ký hiệu các điểm b, c, d, đ và e hiện hành tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 thành các điểm c, d, đ, e và g tương ứng.

Sửa đổi một số nhiệm vụ và giải pháp của Chiến lược

Quyết định số 1989/QĐ-TTg cũng sửa đổi một số điểm thuộc khoản 5 Điều 1 về nhiệm vụ và giải pháp của Chiến lược.

Cụ thể, Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi điểm a khoản 5 Điều 1 về nhiệm vụ hoàn thiện thể chế chính sách và công cụ quản lý nợ giai đoạn 2026 - 2030 như sau:

"- Giai đoạn 2026 - 2030:

+ Tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả Luật Quản lý nợ công đã được sửa đổi, bổ sung và các văn bản quy định chi tiết; tiếp tục rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý nợ công, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và pháp luật có liên quan;

+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tiếp tục nâng cao chất lượng thống kê, cơ sở dữ liệu về nợ nước ngoài tự vay, tự trả; tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu xây dựng định hướng đổi mới khung chính sách quản lý nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm an toàn nợ quốc gia, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định."

Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi ba gạch đầu dòng đầu tiên tại điểm b khoản 5 Điều 1 về thực hiện các công cụ, biện pháp quản lý nợ hiện đại thành hai gạch đầu dòng như sau:

"- Quản lý nợ công thống nhất, chủ động, an toàn, bền vững. Chính phủ điều hành các chỉ tiêu rủi ro danh mục nợ Chính phủ theo thông lệ quốc tế và bối cảnh của Việt Nam. Đa dạng hóa việc huy động phù hợp với thị trường và yêu cầu huy động nguồn lực ngân sách nhà nước. Gắn kết chặt chẽ quản lý ngân sách nhà nước và nợ công với quản lý ngân quỹ nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực tài chính của Nhà nước, bảo đảm thanh khoản của Chính phủ tại mọi thời điểm.

- Chủ động điều hành linh hoạt về công cụ, hình thức, kỳ hạn, thời điểm và khối lượng vay trong năm, gắn với công tác quản lý ngân quỹ, giảm áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu huy động và dự phòng cho thời điểm thị trường không thuận lợi, bảo đảm an toàn nợ công và thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ."

Phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức Đầu tư

Quyết định số 1989/QĐ-TTg cũng sửa đổi gạch đầu dòng đầu tiên tại điểm d khoản 5 Điều 1 về giải pháp tiếp tục tăng cường công khai, minh bạch về huy động, quản lý và sử dụng nợ công, nâng cao định mức tín nhiệm quốc gia như sau:

"- Phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức Đầu tư; tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030.

Từ khóa: nợ công, Quyết định 1989/QĐ-TTg, quản lý nợ công, Chiến lược nợ công giai đoạn 2026 - 2030, an toàn nợ công, dự toán ngân sách nhà nước, vay ODA, xếp hạng tín nhiệm quốc gia

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: pv/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập