Đại biểu Quốc hội cảnh báo nguy cơ "lách" đấu giá đất qua chia tách dự án

Cập nhật: 14 giờ trước

VOV.VN - Đại biểu Quốc hội cảnh báo nguy cơ chia tách dự án để né đấu giá, đấu thầu đất; đồng thời đề nghị siết cam kết hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá thực chất hiệu quả dự án FDI và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Dự án nhiều loại đất không để chia tách nhằm né đấu giá, đấu thầu

Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đại biểu Trịnh Ngọc Phương (Đoàn ĐBQH tỉnh Tây Ninh) cho rằng, cơ chế tiếp cận đất đai không đơn thuần là thủ tục hành chính mà còn liên quan trực tiếp đến việc lựa chọn nhà đầu tư và sử dụng đất sau khi dự án được chấp thuận.

Đại biểu Trịnh Ngọc Phương đặc biệt lưu ý tình huống một dự án có nhiều loại đất xen kẽ, trong đó có cả đất nhà đầu tư tự thỏa thuận nhận chuyển nhượng, đất công và đất thuộc diện Nhà nước thu hồi. Dự thảo chưa quy định rõ cách xử lý đối với những dự án này.

Dẫn ví dụ dự án đô thị 50 ha, gồm 30 ha nhà đầu tư thỏa thuận nhận chuyển nhượng, 10 ha đất công và 10 ha đất Nhà nước thu hồi, đại biểu phân tích: Nếu căn cứ vào phần đất đã thỏa thuận để xem xét toàn bộ dự án, có thể bỏ qua cơ chế cạnh tranh đối với phần đất công. Ngược lại, nếu xử lý riêng từng loại đất mà không xem xét tính thống nhất của dự án, nguy cơ chia tách dự án, phát sinh khiếu kiện và thiếu thống nhất trong thực hiện có thể xảy ra.

Đại biểu đề nghị, bổ sung vào Điều 23 nguyên tắc xem xét tổng thể tính chất, mục tiêu, quy mô và tính thống nhất của dự án, đồng thời xác định hình thức tiếp cận đối với từng diện tích đất theo pháp luật về đất đai. Việc nhà đầu tư nhận chuyển nhượng một phần diện tích không đương nhiên làm phát sinh quyền thực hiện dự án trên phần đất còn lại. Cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý đầu tư và đất đai, tránh chia tách hoặc xác định ranh giới dự án để né đấu giá, đấu thầu.

Đại biểu cũng đề nghị,phân định rõ thủ tục đầu tư đặc biệt với điều kiện tiếp cận đất đai. Việc được áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt không đồng nghĩa nhà đầu tư đương nhiên được lựa chọn mà không qua đấu thầu; quỹ đất đã thu hồi, giao tổ chức phát triển quỹ đất quản lý cũng không mặc nhiên được giao cho nhà đầu tư mà không qua đấu giá, đấu thầu.

Vì vậy, cần chỉnh lý khoản 4 Điều 38, xác định giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là căn cứ thực hiện các thủ tục đất đai tiếp theo. Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất vẫn phải đáp ứng đầy đủ điều kiện, thẩm quyền, trình tự và hình thức tiếp cận theo quy định pháp luật.

Đại biểu Trịnh Ngọc Phương cũng đặt vấn đề về cơ chế bảo đảm thực hiện dự án đối với những trường hợp được miễn ký quỹ. Miễn ký quỹ cho nhà đầu tư trúng đấu giá, trúng thầu hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo điều kiện luật định là hợp lý, nhưng cần phân biệt quyền tiếp cận đất với năng lực tài chính và khả năng triển khai dự án.

Thực tế có thể xảy ra tình trạng nhà đầu tư nhận chuyển nhượng đất, được miễn ký quỹ nhưng sau đó không huy động được vốn, không triển khai dự án trong nhiều năm, gây lãng phí nguồn lực đất đai. Vì thế, cầnnghiên cứu cơ chế thay thế để bảo đảm cam kết về tiến độ, vốn đầu tư và sử dụng đất đúng mục đích.

Ưu đãi đầu tư phải đi cùng trách nhiệm và hiệu quả thực chất

Cùng quan tâm đến việc kiểm soát hiệu quả chính sách đầu tư, đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn ĐBQH Hưng Yên) cho rằng, cần ràng buộc chặt chẽ việc thực hiện cam kết để hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt.

Theo đại biểu, khoản 4 Điều 17 dự thảo đã quy định nguyên tắc áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt trên cơ sở kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh và nâng cao giá trị gia tăng trong nước.

Dự thảo cũng quy định việc thu hồi ưu đãi, hỗ trợ khi nhà đầu tư không đáp ứng tiêu chí, điều kiện hoặc không thực hiện đầy đủ cam kết. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng chưa làm rõ mức độ thực hiện cam kết như thế nào được coi là đạt yêu cầu; trường hợp chỉ hoàn thành một phần cam kết thì xử lý ra sao, thu hồi toàn bộ hay chỉ phần ưu đãi tương ứng với nghĩa vụ chưa hoàn thành.

Đại biểu dẫn ví dụ, một dự án công nghệ cao được hưởng ưu đãi lớn nhưng không đạt cam kết về đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung cấp trong nước. Nếu chỉ căn cứ vào vốn giải ngân và sản lượng thì dự án vẫn có thể được đánh giá thành công, dù lợi ích lan tỏa chưa đạt yêu cầu.

Do đó, đại biểu đề nghị, bổ sung quy định đánh giá theo từng cam kết, mức độ hoàn thành và trách nhiệm xử lý tương ứng; giao Chính phủ quy định việc điều chỉnh, thu hồi ưu đãi phù hợp với mức độ vi phạm. Cách làm này vừa tránh tạo ra sự cứng nhắc đối với nhà đầu tư, vừa không để các cam kết trở thành hình thức.

Đối với việc đánh giá hiệu quả thực chất của dự án, đại biểu Nguyễn Văn Huy cho rằng khoản 4a Điều 45 đã đề cập đến giá trị gia tăng, tính bền vững và tác động lan tỏa nhưng chưa xác định các chỉ tiêu cụ thể.

Thực tế, hai dự án có cùng quy mô vốn đầu tư nhưng mức độ đóng góp cho nền kinh tế có thể rất khác nhau. Một dự án chủ yếu thực hiện gia công, nhập khẩu linh kiện; trong khi dự án khác có hoạt động nghiên cứu và phát triển, đào tạo kỹ sư, sử dụng nhà cung cấp trong nước. Nếu chỉ nhìn vào vốn đăng ký và kim ngạch xuất khẩu sẽ chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về đóng góp của các dự án đối với nền kinh tế.

Đại biểu đề nghị, giao Chính phủ ban hành bộ tiêu chí đánh giá theo từng ngành, lĩnh vực, chú trọng giá trị gia tăng trong nước, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, liên kết doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Kết quả đánh giá cần được sử dụng làm căn cứ xem xét việc tiếp tục áp dụng hoặc điều chỉnh ưu đãi đầu tư.

Một nội dung khác được đại biểu Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh là thúc đẩy liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Dự thảo đã có quy định khuyến khích doanh nghiệp FDI công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, cơ chế hiện nay chủ yếu dừng ở khuyến khích công bố thông tin và hỗ trợ theo cam kết, chưa thể hiện rõ trách nhiệm kết nối, nâng cấp năng lực nhà cung cấp trong nước cũng như đánh giá kết quả liên kết sau khi dự án đi vào hoạt động.

Trên thực tế, doanh nghiệp trong nước có thể có năng lực sản xuất nhưng không tiếp cận được thông tin về nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình kiểm định hoặc kế hoạch lựa chọn nhà cung cấp của doanh nghiệp FDI.

Trong khi đó, doanh nghiệp FDI có thể tiếp tục nhập khẩu linh kiện, nguyên liệu từ hệ thống nhà cung cấp quen thuộc ở nước ngoài. Khi ấy, vốn đầu tư và kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng mối liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn hạn chế, khiến tác động lan tỏa của dự án chưa tương xứng với ưu đãi được hưởng.

Đại biểu đề nghị, bổ sung quy định khuyến khích công bố nhu cầu mua sắm, hỗ trợ nâng cao năng lực nhà cung cấp trong nước và xác định kết quả liên kết thành chỉ tiêu có thể kiểm chứng.

Đồng thời, cần có cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý đầu tư, cơ quan quản lý ngành, địa phương và các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp để kết nối nhu cầu của doanh nghiệp đầu chuỗi với năng lực của doanh nghiệp trong nước; ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn quản trị, năng lực công nghệ và khả năng đáp ứng đơn hàng. Cơ chế này phải bảo đảm doanh nghiệp trong nước được tiếp cận cơ hội minh bạch, bình đẳng, không tạo nghĩa vụ mua hàng nội địa trái với các cam kết quốc tế.

Từ khóa: đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư sửa đổi, Trịnh Ngọc Phương, Nguyễn Văn Huy, đấu giá đất, đấu thầu dự án, ưu đãi đầu tư, doanh nghiệp FDI, chuỗi cung ứng, tiếp cận đất đai

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: vân hồng/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập